15
Sau văn hội, danh tiếng vang dội.
Tấm biển “Thái Thương đệ nhất tài nữ”,
được người ta khiêng đến tận cửa nhà tôi.
Cha vui mừng đến mức phát bánh bao cho ăn mày cả thành suốt ba ngày.
Ánh mắt của mọi người đều thay đổi.
Nhưng trong lòng tôi hiểu rõ, tất cả những điều này, một nửa công lao thuộc về kẻ suốt ngày say rượu Thẩm Hạc Chi kia.
Để tỏ lòng cảm tạ, tôi đã phong cho anh ta một cái bao lì xì thật lớn theo giá thị trường.
Anh ta nhìn đống bạc, cười khẩy một tiếng:
“Đuổi ăn mày đấy à?”
“Vậy huynh muốn thế nào?”
“Dạy ta làm thơ.”
“Huynh ư? Làm thơ ư?” Tôi kinh ngạc nhìn anh ta, “Huynh một kẻ múa đao múa thương, làm thơ cái gì chứ?”
“Sao? Coi thường võ phu à? Năm nay triều đình muốn tuyển kẻ văn võ toàn tài vào Hàn Lâm viện, cần có người tôi luyện văn chương giúp ta.”
Thì ra là vậy.
“Vậy huynh cầu tôi đi.”
Anh ta nhìn tôi, bật cười.
“Cẩm Ly muội muội, cầu em đi mà.”
Cái giọng điệu ấy mềm mại hết sức.
“Được thôi.”
Thế là, quan hệ của hai chúng tôi đảo ngược lại.
Mỗi chiều tối, anh ta đến thư phòng của tôi.
Tôi dạy anh ta thi từ cách luật, anh ta giúp tôi phân tích những đề toán hóc búa.
Dưới ánh nến, dáng vẻ anh ta viết chữ đặc biệt chăm chú.
Có một lần anh ta cúi quá sát, tôi ngửi thấy mùi bồ kết trên người anh ta, tay run lên một cái, mực nhỏ giọt xuống giấy tuyên.
“Sao thế?” Anh ta ngẩng đầu lên.
“Không sao cả.”
Nhưng lại liếc thấy bài thơ anh ta đang viết, đề là “Tặng Cẩm Ly”.
Mặt tôi lập tức đỏ bừng.
16
Chuyện tốt chẳng ra khỏi cửa, chuyện xấu truyền ngàn dặm.
Chuyện tôi đạt đầu danh trong văn hội, chưa vui được mấy ngày, trong thành đã nổi lên những lời đàm tiếu đồn thổi.
Nói rằng bài sách luận của tôi là do người khác viết hộ.
Nói rằng một nữ tử khuê các, thì hiểu cái gì về hải phòng.
Nói rằng phương lược ấy nhất định là do Thẩm thiên hộ viết, Lục Cẩm Ly chẳng qua chỉ là mượn hoa dâng Phật.
Thu Nguyệt kể cho tôi nghe những lời này, tức giận đến dậm chân thình thịch.
“Tiểu thư, rõ ràng là chính tay người viết ra mà!”
“Ai là kẻ đồn thổi?”
“Tô tiểu thư. Cô ta còn nói người và Thẩm thiên hộ không rõ ràng, nếu không người ta dựa vào đâu mà đem phương lược cho người.”
Quá đáng hơn nữa là, hôm sau Tô tiểu thư tại trà hội trước mặt mọi người hỏi tôi: “Lục Cẩm Ly, bài sách luận của cô, Thẩm thiên hộ đã tôi luyện không ít đấy nhỉ?”
Cả phòng im phăng phắc.
Ánh mắt của tất cả mọi người đổ dồn vào tôi.
Tôi đặt chén trà xuống, nhìn thẳng vào mắt cô ta.
“Tô tiểu thư, cô nói tôi luyện, là chỉ đoạn nào?”
Cô ta không ngờ tôi sẽ hỏi ngược lại, chững lại một chút.
“Cả bài đều là thế.”
“Vậy tôi hỏi cô, trong bài sách luận ấy của tôi có viết Lưu Gia Cảng có mấy chỗ đá ngầm? Vị trí cụ thể ở đâu?”
Cô ta không đáp được.
“Hải phòng tuần hàng, mỗi mấy canh giờ đổi một ca?”
Sắc mặt cô ta trắng bệch.
“Chiến thuyền điều động, gặp gió đông nam thì nên điều chỉnh hàng tuyến thế nào?”
Cô ta cắn môi, không nói nên lời.
“Tô tiểu thư, cô đến những điều này là gì còn không biết, dựa vào đâu mà nói bài văn của tôi là do người khác viết?”
Trà hội im lặng như tờ.
Sắc mặt Tô tiểu thư từ trắng chuyển sang đỏ, rồi lại trắng bệch.
Tôi đứng dậy.
“Lần sau muốn bàn luận về văn chương của người khác, ít nhất cũng phải đọc hiểu bài văn đó trước đã.”
Nói xong, tôi quay người rời khỏi trà hội.
Sau lưng không một ai lên tiếng.
