Người phụ nữ căng thẳng nhìn ta.
Ta thu tay về, cầm bút chấm mực, sắc mặt vẫn bình thản:
“Không sao, chỉ là cảm lạnh nhẹ thôi. Sắc ba bát nước còn một bát, cho uống để toát mồ hôi là khỏi.”
Người phụ nữ cảm tạ rối rít, dắt con rời đi.
Tuyết lớn bay lả tả, phủ kín mọi âm thanh trên con phố dài.
Ta cúi đầu thu dọn hòm thuốc, vừa định đứng dậy thì cửa y quán đột nhiên bị người đẩy bật ra.
Một binh lính toàn thân lấm đầy bùn đất và máu quỳ phịch xuống trước mặt ta.
Hai tay hắn giơ cao một mảnh giáp hộ tâm đã bị máu thấm đỏ.
Mặt sau mảnh giáp, ngay ngắn khâu một lá bùa bình an đã ngả màu.
Đó là lá bùa ta từng cầu cho chàng ở Đại Tướng Quốc Tự khi ta gả cho chàng, từng bước từng bước quỳ lạy trên những bậc thang để cầu được.
Người lính dập đầu thật mạnh, khóc đến mức không thở nổi:
“Phu nhân! Tướng quân trúng bảy mũi tên rồi rơi xuống vực. Trước khi chết, ngài ấy nhất quyết móc mảnh này xuống… Ngài ấy nói, dù có làm ma cũng không thể đánh mất thứ phu nhân tặng!”
Ta nhìn mảng máu đỏ chói mắt kia, đầu ngón tay bỗng run lên.
Ta cụp mắt xuống.
Chút run rẩy ấy chỉ thoáng qua trong chớp mắt, rồi lại trở về bình tĩnh.
Ta nhận lấy mảnh giáp hộ tâm, dùng một miếng gạc sạch cẩn thận bọc lại, đặt lên bàn:
“Ta nhận được rồi. Ngươi về kinh báo tin đi.”
Người lính há miệng, cuối cùng không nói thêm gì. Hắn dập đầu thật mạnh rồi loạng choạng khuất vào màn tuyết gió.
Sau đó, tin tức từ kinh thành liên tục truyền đến Giang Nam.
Triều đình truy niệm chiến công của Bùi Nghiễn Chu, truy phong chàng làm Trung Dũng Hầu.
Phủ tướng quân mất đi nam chủ nhân, hoàn toàn suy bại.
Úc Tri Vi nghe tin chàng chết, chẳng biết nghe được tin tức từ đâu, lập tức dẫn con gái vội vã trở về kinh, muốn chia một phần gia sản.
Nàng ta đã tính sai.
Trưởng công chúa Vinh Hòa đích thân dẫn hộ vệ, cùng phụ thân ta, ném cả người lẫn hành lý của nàng ta ra khỏi kinh thành.
Sau đó nàng ta lưu lạc nơi nào, không còn ai biết.
Còn mẹ chồng, bà được đón từ gia miếu về một căn nhà trống không, ngày ngày canh giữ sân viện lạnh lẽo, đối diện với bài vị của con trai mà khóc đến hỏng cả đôi mắt.
Tang lễ năm ấy khiến cả kinh thành phủ đầy màu tang trắng.
Ta không đến.
Đêm thất đầu, ta khoác áo choàng, một mình đi lên sườn núi phía sau nhà thuốc.
Gió Bắc cuốn từng mảng tuyết tạt vào mặt.
Ta đứng thật lâu, hướng về bầu trời phương Bắc.
Đồng Hạc xách một vò rượu đi lên, thở dài:
“Con bé, trong lòng còn hận không?”
Ta nhận lấy vò rượu, uống một ngụm.
Rượu lạnh buốt trượt qua cổ họng, khiến đầu óc người ta tỉnh táo vô cùng.
“Không hận nữa.”
Ta nhìn tuyết trắng ngập trời, giọng nói rất nhẹ:
“Hận cũng phải tốn sức.”
“Chút sức lực này của con, con muốn dành cho những người còn sống, dành cho những chuyện đáng để làm.”
Thời gian trôi nhanh như thoi đưa.
Vài năm sau, ta trở thành nữ đại phu nổi tiếng khắp vùng Giang Nam.
Ta bỏ tiền xây một y quán lớn, chuyên thu nhận những nữ tử khốn khổ, không nơi nương tựa, dạy họ nhận biết dược liệu, bắt mạch, châm cứu.
Câu chuyện của ta chẳng biết bị ai viết thành thoại bản, lưu truyền trong các quán trà tửu lâu.
Dân chúng đều nói, vị thiên kim Hầu phủ đánh mất danh phận phu nhân tướng quân ấy, ngược lại đã sống thành một truyền kỳ trên đất Giang Nam.
Sau đó, kinh thành truyền tin đến.
Mảnh đất cũ của phủ tướng quân được một phú thương mua lại, phá bỏ rồi xây dựng lại.
Trong lúc sửa sang hậu viện, thợ xây đào được dưới một gốc cây khô một chiếc hộp sắt đã hoen gỉ. Sau nhiều lần chuyển tay, cuối cùng nó được đưa đến y quán của ta.
Trong hộp là một xấp thư dày.
Tất cả đều là những lá thư Bùi Nghiễn Chu viết ở biên quan, nhưng vì áy náy và hổ thẹn nên chưa từng dám gửi đi.
Lá thư nằm trên cùng, phần ký tên đã nhòe khô theo năm tháng, chỉ còn lại một dòng chữ:
“Vân Sơ, kiếp sau, đổi lại để ta chờ nàng.”