Chàng tiếp tục:
“Sau khi trở về phủ, ta đưa cho Tri Vi ba nghìn lượng bạc, đưa mẹ con nàng ta về quê tái giá.”
“Ngày nàng ta rời đi, nàng ta quỳ trước mặt ta khóc, nói mình đã làm sai, cầu xin ta tha thứ.”
“Ta nói, người nàng ta cần cầu xin tha thứ không phải ta.”
“Mẹ ta bị ta đưa đến gia miếu. Trên danh nghĩa là thay nhà họ Bùi cầu phúc, nhưng thực chất là để bà ấy tự chuộc tội.”
“Viện của Tri Vi từng ở, ta đã phong kín. Tất cả đồ đạc bên trong đều thiêu sạch, không chừa lại một thứ.”
Ta xoay người trở lại trước bàn, tiếp tục sắp xếp dược liệu cần dùng vào ngày mai.
Giọng chàng lại truyền đến, mang theo tiếng nghẹn:
“Ta biết làm gì cũng đã muộn.”
“Ta chỉ muốn đích thân nói với nàng một câu…”
Trên cánh cửa khẽ vang lên một tiếng động.
Là tiếng trán chàng tựa vào cửa.
“Xin lỗi.”
Tay ta dừng lại.
Trong phòng vô cùng yên tĩnh, ngọn đèn dầu thỉnh thoảng lại nổ tí tách.
Ta đứng trước ánh đèn, bóng người kéo dài trên bức tường đất.
Cuối cùng, ta lên tiếng:
“Bùi tướng quân.”
Hơi thở bên ngoài khựng lại.
“Lời xin lỗi của chàng, ta nhận.”
Ta bước đến bên cửa, nhưng không mở.
“Nhưng ta không tha thứ cho chàng.”
Ta kéo then cửa, mở cửa ra.
Chàng ngẩng đầu.
Hốc mắt đỏ hoe, nước mắt lặng lẽ lăn xuống.
Ta không nhìn vào mắt chàng, chỉ lấy từ trong tay áo ra một gói thuốc, đưa đến trước mặt chàng:
“Trong người chàng có vết thương cũ. Vai trái từng trúng tên, mỗi khi trời âm u mưa gió sẽ đau.”
“Thuốc này uống liên tục nửa tháng, có thể giảm đau.”
Chàng ngơ ngác nhìn gói thuốc, không đưa tay nhận.
Ta nhét nó vào tay chàng:
“Giữa chúng ta, giờ chỉ còn quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân.”
“Mời về.”
Ta xoay người bước vào phòng, đóng cửa, cài then.
Mọi động tác liền mạch, không chút do dự.
Sau cánh cửa truyền đến một tiếng cười rất khẽ, tựa như đang tự giễu chính mình.
Ta biết chàng đã khóc.
Nhưng ta không quay đầu.
Gói thuốc ấy, nhất định chàng sẽ uống.
Bởi từ mạch tượng, ta đã nhìn ra. Vết thương cũ của chàng nếu cứ kéo dài thêm, sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
Ta thổi tắt đèn dầu, nằm xuống trong bóng tối.
Lương tâm của người thầy thuốc là cứu mạng người.
Còn trái tim của ta…
Đã chết từ ba năm trước, trong lá thư không một ai nhận ấy rồi.
Sau đêm hôm đó, Bùi Nghiễn Chu không trở về kinh.
Chàng thuê một căn nhà nhỏ cũ nát ở góc phố gần nhà thuốc, từ bỏ gấm vóc, thay sang áo vải thô.
Mỗi sáng sớm, khi ta mở cửa, luôn có thể nhìn thấy bóng người lặng lẽ đứng bên kia đường.
Ta không nhìn chàng, chàng cũng tuyệt đối không bước qua giới hạn.
Ban đêm, khi ta đến thôn bên khám bệnh, phía sau luôn có tiếng bước chân không gần không xa đi theo.
Có lần gặp phải mấy con chó hoang chặn đường, ta còn chưa kịp lấy thuốc bột ra, đã có mấy viên đá từ trong bóng tối bay tới. Đám chó lập tức cụp đuôi chạy mất.
Ta cứ coi như không nhìn thấy.
Chàng cũng coi như mình chỉ là một cái bóng.
Những ngày tháng bình lặng chẳng mặn chẳng nhạt như vậy trôi qua ba tháng.
Ngày Lập Thu, một con ngựa phi nhanh đến.
Người đưa tin ngã lăn xuống khỏi lưng ngựa, quỳ trước căn nhà cũ:
“Khẩn báo! Bắc Địch ồ ạt xâm phạm biên cương, liên tiếp chiếm mất ba thành. Triều đình cấp tốc hạ thánh chỉ, lệnh cho Chinh Viễn Đại tướng quân Bùi Nghiễn Chu lập tức nhận ấn xuất chinh!”
Trong nhà thuốc, bàn tay đang bốc thuốc của ta không hề dừng lại.
Ta cân đủ một lạng hoàng kỳ cuối cùng, đổ vào ngăn thuốc.
Nửa canh giờ sau, bên ngoài truyền đến tiếng bước chân quen thuộc.
Chàng không gõ cửa, chỉ lặng lẽ nhét một phong thư qua khe cửa.
“Vân Sơ, Bắc Địch đã phá quan, ta nhất định phải đi. Chuyến này hung hiểm, không biết còn có thể sống trở về hay không.”
“Năm xưa ta đưa nàng tờ hôn thư để trống, nàng điền hòa ly, ta chấp nhận.”
“Phong thư này, cứ xem như di thư của ta.”
“Nếu ta chết nơi chiến trường, nàng không cần thay ta thu nhặt hài cốt.”
Gió xuyên qua con phố dài.
Tiếng vó ngựa dần xa.
Chàng không quay đầu, đương nhiên cũng không nghe thấy tiếng bước chân rất khẽ của ta phía sau cánh cửa.
Ta cúi xuống nhặt phong thư.
Phong bì rất dày, không đề tên.
Ta không mở ra.
Ta đi thẳng đến lò sắc thuốc ở hậu viện. Lửa trong lò đang cháy rực, ta tiện tay ném phong thư vào.
Lưỡi lửa cuộn lên.
Tình sâu nghĩa nặng hay lời trăn trối gì đó, thoáng chốc chỉ còn lại một nhúm tro dưới đáy lò.
Ta tiếp tục theo sư phụ nhận biết những loại thuốc mới, cặm cụi viết từng dòng tâm đắc chi chít lên các bệnh án.
Cái tên Bùi Nghiễn Chu…
Giống như đã bị những cơn mưa Giang Nam rửa trôi sạch sẽ, không còn để lại chút dấu vết nào trong cuộc sống của ta.
Ba tháng sau, trận tuyết đầu tiên của mùa đông phủ xuống Giang Nam.
Ta đang ngồi trong sảnh bắt mạch cho một đứa trẻ bị sốt, bên ngoài y quán bỗng vang lên tiếng người xôn xao:
“Biên quan đại thắng! Toàn bộ chủ lực Bắc Địch đã bị tiêu diệt!”
“Nhưng nghe nói Chinh Viễn Đại tướng quân thống lĩnh ba quân đã trúng mấy mũi tên khi che chắn cho đại quân chủ lực, rơi khỏi ngựa xuống vực sâu vạn trượng!”
“Đại quân tìm kiếm suốt bảy ngày bảy đêm vẫn không tìm thấy người. Triều đình cũng đã phát tang rồi!”
Mẹ đứa trẻ kinh hãi kêu lên:
“Ông trời ơi, vậy chẳng phải vị tướng quân ấy đã chết không toàn thây sao?”
Hai ngón tay đang đặt trên cổ tay đứa trẻ của ta không thể khống chế mà khựng lại.