17
“A Ninh, muội vẫn là mặc y phục màu đỏ đẹp nhất.”
Một ngôi mộ cô đơn một sắc đỏ, một tấm lụa hồng nối liền âm dương.
Ta cúi đầu nhìn lại bộ y phục đỏ trên người, dùng tay vuốt phẳng những nếp nhăn, khẽ hỏi: “Ôn Thư Khanh, hôm nay y phục đỏ của A Ninh có đẹp không?”
Không ai đáp lại, chỉ có gió núi xuyên qua tấm bia mộ, nhẹ nhàng như thể có ai đó đang thầm thì.
Trước khi chết, việc chàng bận rộn nhất, chính là đi khắp nơi tìm đại sư để tính ngày lành tháng tốt, các vị sư phụ ở mấy ngôi chùa đều đã xem giúp chàng ngày lành, định vào ba tháng sau, khi ấy bảng yết kỳ Xuân Vi cũng đã công bố rồi, nhất định sẽ là chuyện song hỷ lâm môn.
Nhưng chàng đã không thể chờ được, không thể chờ được A Ninh của chàng khoác lên bộ hồng giá y ấy.
Đó là bộ y phục mà chàng đã dành dụm năm này qua năm khác, vẽ kiểu suốt mấy ngày mấy đêm, tìm đến người thợ thêu giỏi nhất phường, từng mũi kim từng sợi chỉ may nên.
“Ôn Thư Khanh, mười hai năm rồi, A Ninh đến để cùng chàng thành hôn đây.”
Trên tấm bia mộ trơ trọi, đầu kia của tấm lụa hồng phủ lên trên, một nỗi quạnh hiu trống trải vô cớ.
Ta đứng dậy, nhìn thật sâu vào những dòng chữ trên bia: “Ôn Thư Khanh, sau này ta… sẽ không đến thăm chàng nữa.”
Ta xoay người rời đi, tà váy màu đỏ bay phấp phới trong khu rừng cổ thụ, bóng lưng thẳng tắp kiên quyết.
Còn phía sau lưng ta, tấm lụa hồng trên bia mộ khẽ lay động theo gió, giống như Ôn Thư Khanh đang đứng sau lưng dõi theo, chàng như đang nói: “A Ninh, đừng sợ, hãy đi về phía trước.”
18
Bước ra khỏi khu rừng, Thẩm Hồng Ngọc liếc mắt một cái liền nhìn thấy ta, lập tức tiến lên.
Ta nhìn nàng ta, vừa đi về phía xe ngựa, nghĩ đến lời gửi gắm của lão phụ thân nàng ta, vừa hỏi: “Nàng bao nhiêu năm nay ở bên cạnh Trẫm, có ai là người trong lòng không? Trẫm có thể ban hôn cho nàng.”
Nàng ta ngẩng đầu lên, trên mặt thoáng sững sờ, rồi ngay sau đó nói: “Người đừng có quản chuyện này của thần, thần bây giờ còn chưa muốn lấy chồng, ai nói nữ tử nhất định phải gả chồng chứ?”
Lúc nàng ta hờn dỗi, lại có thể mơ hồ nhìn thấy một tia phong thái của ngày xưa.
Ta khoát khoát tay, kệ nàng ta.
Vừa vào tới cung điện, đã có cung tỳ hoảng hốt chạy tới: “Bệ hạ, không hay rồi, Chu tướng quân và Vương Thừa tướng lại đánh nhau rồi, không đúng, là Chu tướng quân lại đem Vương Thừa tướng ra mà đánh!”
Ta thay y bào, bất lực nói: “Lại làm sao nữa vậy?”
Cung tỳ như trút đậu ra đĩa mà kể lể tỉ mỉ: “Chu tướng quân hôm nay vừa nhìn thấy Thừa tướng, liền nói ông ấy không biết xấu hổ, dám cả nửa đêm còn ra vào tẩm cung của người, rõ ràng là không có ý tốt. Thừa tướng tay trói gà không chặt, đương nhiên là đánh không lại ạ, chỗ xương lông mày kia liền bị ăn một quả đấm, hiện giờ đang để Thái y chữa trị đấy ạ. Thừa tướng bảo thần về bẩm báo với bệ hạ, xin đừng lo lắng, chỉ là vết thương nhỏ thôi ạ. Thừa tướng còn nói, nghĩ rằng Chu tướng quân cũng chẳng phải cố ý làm vậy, nhất định là có chỗ ông ấy làm không đúng, ông ấy xin tự mình cúi mình tự kiểm điểm ạ…”
Hai người này kẻ nào cũng có đại tài, ở trên triều đường có thể nói là tay trái tay phải của ta, thiếu một người cũng không được.
Nhưng ngày thường, lại thường xuyên vì mấy chuyện nhỏ nhặt mà nảy sinh tranh chấp, để ổn định triều đường, có đôi khi ta còn không thể không đi khuyên nhủ một phen.
Ta nhướn mày lên, nói với Thẩm Hồng Ngọc: “Đi, theo Trẫm đến xem thử.”
Thẩm Hồng Ngọc nghe vậy, kéo dài mặt ra, lẩm bẩm nói: “Ngày nào cũng là mấy trò này, hai đại nam nhân như vậy mà làm ra chuyện này thì còn ra thể thống gì nữa? Bệ hạ, người đừng có dung túng cho bọn họ…”
Ta cong cong khóe môi cười khẽ, bước chân dưới chân không ngừng lại.
Bước đi dời bước giữa muôn trùng, tường đỏ ngói biếc nối tiếp nhau hết cảnh này đến cảnh khác.
Có thể nói là, gió xuân quét sạch ngàn núi tuyết, đào lý nghênh diện đẹp yêu kiều.
(Hết)
