3
Đó là mùa đông bảy năm về trước,
Thánh thượng tổ chức săn bắn mùa đông ở Nam Sơn, ta cũng nằm trong số những người tùy giá.
Trong màn tuyết trắng mênh mông, một con hồ ly trắng linh động nhảy nhót, thu hút ánh nhìn của tất cả mọi người. Hồ ly trắng vốn là điềm lành tường thụy, bao năm khó gặp, ta lập tức thúc ngựa phóng lên.
Sau một hồi truy đuổi rất lâu, con hồ ly trắng ấy cuối cùng cũng kiệt sức, bị ta bắn trúng một chân sau. Ta hớn hở xuống ngựa đi nhặt, nào ngờ từ bên cạnh lao vụt ra một người, nhanh tay nhấc con tiểu hồ ly ấy đi mất.
“Đồ vô lễ ở đâu ra!” Ta phẫn nộ mắng toan đuổi theo, lại bị tỷ tỷ bên cạnh níu lại.
“Đó là thị vệ của Ngũ công chúa.”
Nếu là người khác, ta nhất định sẽ phân rõ phải trái cao thấp, nhưng Ngũ công chúa Lục Thanh Nghiên là nữ nhi được Thánh thượng sủng ái nhất, xưa nay… cũng chẳng phải hạng biết giảng đạo lý gì.
Vốn tưởng rằng chuyện này cứ thế cho qua, kết quả đợi đến khi ta ủ rũ đến yến tiệc, thì Lục Thanh Nghiên đang ôm con tiểu hồ ly bạch tuyết, đắc ý khoe khoang với mọi người:
“Con tiểu gia hỏa này lanh lợi lắm, làm bổn cung tốn bao công sức mới bắt được đấy!”
“Nhưng mà tuy chỉ có một con, dù sao cũng đã bắt được rồi, thảo nào phụ hoàng luôn nói bổn cung phúc trạch thâm hậu. Ngươi nói có phải không, Tống tam tiểu thư?”
Ả ta vừa xoa nắn tiểu hồ ly, vừa cười như không cười liếc sang ta một cái.
Sao lại có thứ vừa được lợi lại còn lên mặt dạy đời như thế này cơ chứ! Nếu không phải tỷ tỷ ngăn lại, ta nhất định sẽ lao lên đánh vỡ đầu ả ta!
Ngay lúc ấy, rèm cửa động đậy, thì ra là Lục Hành bước vào. Ta cùng mọi người cúi mình hành lễ, nhưng trước mắt bỗng nhiên xuất hiện hai đoàn lông mao nhung mềm mại.
Lục Hành cúi người xuống trước mặt ta, đầu ngón tay lỏng lẻo nắm lấy đuôi của hai con tiểu hồ ly bạch tuyết.
“Trên đường trông thấy, nghĩ nàng sẽ thích, nên đã bắt hai con về cho nàng chơi.”
Chàng vừa giơ tay lên, tiểu hồ ly liền vừa vặn rơi vào lòng ta. Lục Hành đứng thẳng dậy, hờ hững xoa xoa mái tóc ta, nụ cười ôn tồn nhã nhặn: “Chiêu Chiêu nhà cô không chịu được ấm ức, nếu ngày nào đó ngỗ nghịch va chạm với ai, nể mặt cô nhi, đành phải để người khác nhường nàng ba phần vậy.”
Lúc đó trong mắt ta không hề có Lục Hành. Chàng tuy là Thái tử cao quý, tính tình xưa nay cực kỳ kiêu ngạo, nhà ta cũng là thế gia hiển hách, chẳng phải dạng hèn kém chịu thiệt thòi. Là Lục Hành đã hạ mình dỗ dành ta, quen chiều chuộng ta, khiến ta cuối cùng đã động lòng muốn nhập cung.
Thế nhưng khi ta hớn hở tuyên bố muốn gả cho Lục Hành, phụ thân và huynh trưởng lại lần đầu tiên nổi giận với ta. Người ca ca xưa nay cưng chiều ta đến mức không coi ai ra gì, lớn tiếng quát mắng:
“Muội tưởng điện hạ là hạng người dễ chung sống sao? Muội mà nhập cung rồi, thì đi đâu mà tìm cho ra cảnh một đời một kiếp một đôi lứa của muội nữa?”
Lục Hành dĩ nhiên không phải là hạng người dễ chung sống, chàng đối với người khác hung dữ kiêu ngạo như thế, nhưng mà, chàng đối với ta tốt như vậy, dịu dàng như vậy, trên tặng ta cổ ngoạn chí bảo, dưới tự tay nấu canh ngọt cho ta, lúc nhàn rỗi thì dẫn ta lén ra ngoài phủ chơi, khi bận rộn cũng không quên sai ám vệ đến dặn dò ta phải ăn cơm đàng hoàng — ta không tin chàng không để tâm đến ta.
Ta quỳ trong từ đường hai ngày hai đêm, cuối cùng dùng nước mắt buộc phụ thân và huynh trưởng thỏa hiệp.
Lục Hành là yêu ta thật lòng, dù có không phải một đời một kiếp một đôi lứa đi nữa, ta của năm mười bốn tuổi vẫn tin chắc rằng:
Ta mãi mãi sẽ là vầng trăng trên chóp tim Lục Hành.
