Ánh trăng nơi vết nứt, dựng lại một tòa thành

Tôi nhận lấy, cúi đầu nhìn. Gia công tinh xảo, không phải đồ rẻ tiền. Người đó, thật sự đã bỏ công sức.

“Z&Y,” tôi nói, “Z là họ của hắn ta, Y là em?”

“Y là Doãn,” cô nói, “nhưng cũng có thể là chữ ‘Dữ’ trong Dữ Xuyên. Chỉ cần anh đồng ý, chúng ta có thể đem khắc lại.”

Tôi không nói gì, đóng hộp lại, bỏ vào túi.

Chúng tôi ngồi trên bãi biển đến khi mặt trời ngả về tây. Mặt biển nhuộm thành một mảng vàng, xa xa có những đứa trẻ đang đắp lâu đài cát, cha mẹ giơ điện thoại chụp ảnh. Tiếng cười bị gió cắt thành từng đoạn, thổi tới.

“Về thôi,” tôi nói, “trời sắp tối rồi.”

Trên đường về cô ngủ quên, đầu tựa vào cửa kính, đôi mày vẫn hơi nhíu. Những lúc chờ đèn đỏ, tôi nghiêng đầu nhìn cô, nhớ về rất nhiều năm trước.

Khi đó cô cũng ngủ như vậy. Tôi lặng lẽ tắt nhạc, đắp áo khoác lên người cô. Cô tỉnh dậy, nheo mắt cười với tôi, hỏi: “Trình Dữ Xuyên, chúng ta sẽ cứ tốt đẹp như thế này mãi, đúng không?”

Tôi nói: “Ừ. Anh hứa.”

Đèn xanh bật sáng, chiếc xe phía sau bóp còi một tiếng. Cô giật mình tỉnh giấc, ngơ ngác chớp mắt.

“Đến rồi à?” Giọng cô còn vương chút ngái ngủ.

“Còn sớm, em ngủ tiếp đi.”

“Không ngủ nữa,” cô ngồi thẳng dậy, “chúng ta nói chuyện đi.”

“Nói gì?”

“Nói về sau này,” cô nhìn tôi, “Dữ Xuyên, anh còn yêu em không?”

Tôi không ngờ cô lại hỏi thẳng như vậy. Xe chạy vào đường hầm, ánh đèn loang loáng quét qua mặt cô.

Đường hầm rất dài, dài như không có điểm cuối. Bóng tối bao trùm lấy chiếc xe, chỉ còn một điểm sáng nhỏ ở nơi cửa hầm phía xa.

“Anh không biết.” Tôi nói thật.

Còn yêu không? Chắc là vẫn còn, nếu không sao lại đau như thế này. Nhưng còn yêu như trước đây không? Tôi không có câu trả lời.

Hôn nhân giống như một cái cây, tình yêu là rễ, lòng tin là đất, giao tiếp là nước, là ánh mặt trời. Rễ của chúng tôi có lẽ vẫn còn, nhưng đất đã kết thành cục, cành lá cũng héo khô.

Ra khỏi đường hầm, trời đã tối. Đèn thành phố lần lượt sáng lên, như một bầu trời đầy sao bị úp ngược.

“Nếu anh vẫn chưa chắc chắn,” cô khẽ nói, “vậy chúng ta bắt đầu từ bạn bè, chậm rãi từng chút, được không? Em sẽ dùng hành động để anh thấy. Anh cho em một cơ hội, cũng là cho cả hai chúng ta một cơ hội.”

“Cần bao lâu?” Tôi hỏi.
“Cái gì?”

“Xây dựng lại lòng tin, cần bao lâu? Một năm, hai năm, hay là cả đời đều mang theo cây gai đó?”

Doãn Mộ Nam không nói gì nữa.

Xe chạy vào khu chung cư, đỗ vào chỗ đậu. Tôi tắt máy, khoang xe yên tĩnh trở lại. Ánh sáng mờ từ bảng điều khiển hắt lên gương mặt nghiêng của cô, nơi khóe mắt còn vệt nước mắt long lanh.

“Em không biết,” cô nói, “nhưng nếu không thử, thì thật sự sẽ kết thúc mất.”

Chúng tôi ngồi trong xe, không ai nhúc nhích. Xa xa có tiếng trẻ con đùa giỡn, có tiếng máy hút mùi nhà ai đó kêu ầm ầm. Cuộc sống vẫn cứ lăn về phía trước, bất kể anh có muốn hay không.

“Cho anh chút thời gian,” cuối cùng tôi nói, “anh cần suy nghĩ cho rõ.”

“Được,” cô gật đầu, “anh muốn bao lâu cũng được. Em sẽ đợi anh.”

Đêm đó tôi vẫn ngủ ở phòng làm việc. Trước khi đi ngủ, cô đến gõ cửa.

“Dữ Xuyên,” cô nói từ bên kia, “ngủ ngon.”

Tôi khựng lại một chút, rồi đáp: “Ngủ ngon.”

Trong đêm tôi mơ một giấc mơ. Mơ thấy Doãn Mộ Nam thời đại học, mặc một chiếc váy trắng, đứng trước cổng thư viện đợi tôi. Tôi chạy tới, cô mỉm cười đưa cho tôi một cuốn sách, nói: “Cho anh mượn đấy, nhớ trả lại.”

Tỉnh dậy trời vẫn chưa sáng, trên gối ướt một mảng nhỏ, tôi cũng không rõ là mồ hôi hay nước mắt.
Ngày hôm sau là Chủ nhật. Cô làm bữa sáng, gọi tôi cùng ăn. Trên bàn cơm cô nói: “Hôm nay em hẹn Chỉ Tình đi phố, anh có đi không?”

“Hai người đi đi,” tôi nói, “anh hẹn lão Bạch chơi bóng rồi.”

Lão Bạch là bạn đại học của tôi, cũng là một trong số ít người biết tình hình gần đây của chúng tôi. Trên sân bóng, anh ta thực hiện một cú lên rổ ba bước, bóng xoay trên vành rổ, rồi lăn vào lưới.

“Đẹp!” Tôi hô lên.

Lúc nghỉ giải lao, chúng tôi ngồi bên mép sân uống nước. Lão Bạch vừa lau mồ hôi vừa nói: “Cậu với Mộ Nam thế nào rồi?”

“Vẫn vậy.”

“Vẫn ngủ riêng à?”

“Ừ.”

Lão Bạch thở dài. “Nói thật, nếu thật sự không qua được, ly hôn cũng tốt. Cứ kéo dài thế này, hai người đều không thoải mái.”

“Cậu cũng thấy nên ly hôn sao?”

“Tôi không nghĩ vậy,” lão Bạch nhìn tôi, “ý tôi là, nếu cậu không vượt qua được khúc mắc trong lòng, ly hôn là giải thoát. Nhưng nếu cậu còn yêu cô ấy, còn muốn giữ cái nhà này, thì phải nghĩ cách bước qua.”

“Bước qua thế nào?”

“Tha thứ,” lão Bạch nói, “tha thứ thật sự, không phải ngoài miệng nói thôi bỏ đi, mà là trong lòng thật sự buông xuống. Khó, tôi biết.”

Quả thật rất khó. Nửa năm nay, ngày nào tôi cũng tập hận cô. Hận cô phản bội lòng tin của tôi, hận cô giấu giếm, hận cô đã đập vỡ tất cả những gì chúng tôi từng có. Hận mãi rồi hận thành thói quen, thành lớp vỏ bảo vệ.

Nếu buông bỏ hận thù, tôi còn lại gì?

“Kể cho cậu một chuyện,” lão Bạch nói tiếp, “bố mẹ tôi hồi trẻ cũng từng xảy ra chuyện giống vậy. Bố tôi có một thời gian công việc không thuận, suốt ngày không về nhà. Mẹ tôi… suýt chút nữa đã đi theo người khác.”

Tôi sững người. “Cậu chưa từng kể.”

“Chuyện nhà không nói ra ngoài mà,” lão Bạch cười khổ, “sau đó bố tôi biết chuyện, làm ầm lên. Mẹ tôi về nhà ngoại, bố tôi ngày nào cũng rượu chè. Chúng tôi đều tưởng họ xong rồi.”

“Sau đó thì sao?”

“Sau đó bố tôi đến trước cổng nhà bà ngoại, quỳ suốt một đêm. Không phải để cầu xin bà quay về, mà là nhận sai. Ông nói những năm qua chỉ lo cho bản thân, đã lạnh nhạt với bà. Nói nếu bà thật sự yêu người khác, ông buông tay; chỉ cần còn một chút khả năng nào, ông muốn làm lại từ đầu.”

“Mẹ cậu quay về rồi?”

“Quay về rồi,” lão Bạch gật đầu, “nhưng họ phải mất mấy năm mới thật sự hòa hợp lại. Hai năm đầu vẫn còn gượng gạo, sau này lớn tuổi rồi thì lại nghĩ thoáng ra. Bây giờ suốt ngày cùng nhau nhảy quảng trường, quấn quýt không rời.”

Tôi cúi đầu uống nước, im lặng.

“Tôi không phải khuyên cậu học theo bố tôi,” lão Bạch nói, “mỗi nhà mỗi cảnh. Nhưng hôn nhân ấy mà, có lúc mong manh lắm, một câu nói nặng cũng là một vết nứt; có lúc lại dai dẳng vô cùng, vỡ nát ra rồi vẫn có thể ghép lại. Quan trọng là xem hai người còn muốn hay không.”

Còn muốn hay không.

Câu nói này cứ xoay vòng trong đầu tôi suốt cả buổi chiều. Về đến nhà, Doãn Mộ Nam và Chỉ Tình đã về rồi, túi lớn túi nhỏ chất đầy trên sofa.

“Anh, anh xem chị dâu mua cho em bao nhiêu đồ tốt này!” Chỉ Tình như khoe kho báu giũ ra một chiếc áo gió. “Đẹp không? Còn có đôi giày này nữa…”

Doãn Mộ Nam đang thái trái cây trong bếp, quay lại mỉm cười. “Chỉ Tình đi làm rồi, phải ăn mặc chỉn chu một chút.”

Cô cười tự nhiên như thế, như thể chúng tôi đã quay lại ngày trước. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ.

Chỉ Tình ăn tối xong mới về, trước khi ra cửa ghé sát tai tôi: “Anh, anh đối xử với chị dâu tốt hơn đi. Hôm nay chị ấy đi phố, cứ đứng trước cửa hàng nhãn hiệu anh thích mặc, nói muốn mua cho anh một chiếc áo sơ mi.”

Tiễn Chỉ Tình xong, Doãn Mộ Nam rửa bát trong bếp. Tôi bước tới, dựa vào khung cửa.

“Nghe nói em muốn mua áo sơ mi cho anh à?” Tôi hỏi.

Tay cô trượt một cái, chiếc đĩa suýt rơi xuống bồn nước. “Con bé Chỉ Tình này, miệng nhanh thật.”

“Sao tự dưng muốn mua áo cho anh?”

Cô không quay đầu lại, tiếp tục rửa bát. “Chiếc áo sơ mi của anh cổ đã sờn cả rồi, nên đổi một chiếc mới.”

“Mộ Nam,” tôi gọi cô.

Cô dừng lại, lưng vẫn quay về phía tôi.

“Chúng ta nói chuyện đi.” Tôi nói.

Cô lau khô tay rồi quay lại, trên mặt có chút căng thẳng. “Nói gì?”

“Nói về sau này.”

Chúng tôi ngồi xuống phòng khách, giữa hai người cách một khoảng bằng một người. Tivi không bật, trong nhà yên ắng đến mức nghe được cả tiếng tích tắc của đồng hồ quả lắc.

“Anh đã nghĩ rất lâu,” tôi mở lời, “về chuyện ly hôn.”

Bàn tay cô nắm chặt lấy vạt áo.

“Anh không muốn ly hôn.” Tôi nói.

Cô đột ngột ngẩng đầu, đôi mắt mở to.

“Nhưng anh cũng không thể giả vờ như chưa từng có chuyện gì xảy ra,” tôi nói tiếp, “anh cần thời gian, có thể là một khoảng thời gian rất dài, để tiêu hóa chuyện này. Trong quãng thời gian đó, chúng ta bắt đầu lại từ con số không. Em có đồng ý không?”

Nước mắt từ đôi mắt cô lăn xuống thành dòng, cô gật đầu thật mạnh, không thốt nên lời.

Sau