Ánh trăng nơi vết nứt, dựng lại một tòa thành

Cô nghẹn lời.

Ngoài cửa sổ có chiếc xe chạy qua, tiếng động từ xa đến gần, rồi lại từ gần ra xa. Ánh đèn neon trên nóc tòa nhà phía xa đổi màu đỏ xanh liên tục, hắt lên mặt kính.

“Sợi dây chuyền đó,” Doãn Mộ Nam nói, “ngày mai em sẽ trả lại cho anh ta. Nếu anh không tin, em có thể xin nghỉ việc, đổi công ty khác. Chúng ta có thể đổi sang một thành phố khác, làm lại từ đầu.”

“Mộ Nam,” tôi ngắt lời cô, “vấn đề không nằm ở đó.”

“Vậy nằm ở đâu?”

“Ở đây.” Tôi chỉ vào ngực mình. “Ở đây bị đâm một cây gai, không rút ra được nữa. Anh chỉ cần nhìn thấy em, sẽ nghĩ tối nay em có đang nhớ đến anh ta không. Em vừa tăng ca, anh không kìm được mà đoán em có đang ở cạnh anh ta không. Anh chán ghét chính mình trong bộ dạng này, cũng chán ghét chuyện cứ giày vò em như vậy.”

Nước mắt Doãn Mộ Nam lại lăn xuống, lần này cô không đưa tay lên lau.

“Vậy nên, thật sự muốn ly hôn?”

“Ừ.”

“Một chút cơ hội cũng không còn nữa sao?”

Tôi nhìn vào đôi mắt cô — đôi mắt mà trước đây tôi thích nhất, giờ đây chất chứa đầy đau đớn và van nài. Có một khoảnh khắc, tôi muốn nói thôi bỏ đi, chúng ta làm lại từ đầu.

Nhưng tôi không mở miệng được.

Mỗi ngày trong nửa năm qua, tôi đều như đang chịu hình phạt. Ngủ trên chiếc giường hẹp trong phòng làm việc, lắng nghe động tĩnh từ phòng ngủ chính. Cô trở mình, cô ho, cô dậy rót nước. Mỗi một âm thanh nhỏ đều kéo theo những hình ảnh đó: cô ôm bó hoa bước ra, cô đứng ngoài ban công nghe điện thoại, cô giấu sợi dây chuyền kia.

Lòng tin giống như một tấm gương, khi đã vỡ rồi, dù có gắn lại thế nào cũng vẫn còn vết nứt.

“Để anh suy nghĩ đã,” cuối cùng tôi nói, “chúng ta đều nên bình tĩnh lại.”

Ánh mắt Doãn Mộ Nam sáng lên trong chốc lát. “Anh muốn ly thân? Em có thể chuyển đi, hoặc anh…”

“Không cần,” tôi lắc đầu, “cứ giữ nguyên hiện trạng. Em ngủ phòng chính, anh ngủ phòng làm việc. Cho nhau một chút không gian, suy nghĩ cho rõ ràng.”

“Suy nghĩ rõ ràng chuyện gì?”

“Có tiếp tục hay không.”

Đêm đó không ai ngủ được bao nhiêu. Từ phòng ngủ chính vọng ra tiếng khóc đứt quãng, kéo dài mãi đến gần sáng mới dứt.

 

Tôi nằm trên giường đếm những đường vân trên trần nhà: một, hai, ba… đếm đến đường thứ ba mươi bảy thì ánng ban mai len vào.

Ánh sáng chen qua khe rèm, vạch xuống sàn nhà một dải vàng hẹp. Bụi trần lơ lửng trong ánh sáng, như vô số sinh mệnh li ti.

Tôi bò dậy rửa mặt, Doãn Mộ Nam đã ở trong bếp. Cô rán trứng và thịt xông khói, nướng bánh mì, còn pha cà phê. Trên bàn ăn bày hai bộ bát đũa, giống như mọi buổi sáng bình thường trước đây.

“Ăn đi,” cô nói, mắt vẫn còn sưng, “em làm cả phần của anh.”

Chúng tôi im lặng ăn hết. Khi tôi dọn bàn, cô nói: “Hôm nay là thứ Bảy.”

“Ừ.”

“Chúng ta đi biển một chuyến đi,” cô nói, “đã lâu lắm rồi chưa đi.”

Hồi yêu nhau chúng tôi thường ra biển. Lúc đó không có tiền, ngồi xe buýt hơn một tiếng đồng hồ. Chúng tôi tản bộ trên bãi cát, nhặt vỏ sò, ngắm hoàng hôn. Cô từng nói muốn mua nhà hướng biển, tôi nói được, cố gắng kiếm tiền.

Sau này thật sự mua nhà, nhưng lại cách biển rất xa. Lúc xem nhà, hoàn toàn chẳng nghĩ gì đến biển cả.

“Được.” Tôi nói.
Lái xe ra biển mất hai tiếng đồng hồ. Trên đường không có nhiều lời, đài xe hết bài này đến bài khác phát những ca khúc cũ. Cô dựa vào ghế phụ, nhìn cảnh vật lùi dần ngoài cửa sổ.

“Anh còn nhớ không,” cô đột nhiên nói, “có một lần chúng ta đi xem bình minh, ngủ quên mất, chỉ kịp thấy rạng đông.”

“Nhớ.”

“Lúc đó anh nói, rạng đông còn đẹp hơn bình minh. Bình minh quá tròn trịa, rạng đông có khuyết thiếu, mới là thật.”

Bàn tay nắm vô lăng của tôi siết chặt hơn. Năm đó tôi hai mươi lăm tuổi, cứ ngỡ những lời đã nói ra, chính là cả một đời.

Bãi biển không đông người, mùa này vẫn chưa xuống nước được. Chúng tôi chầm chậm đi dọc bờ cát, con triều dâng lên chạm mắt cá chân rồi lại rút xuống. Cô xách giày, chân trần giẫm lên cát, cúi đầu, như đang tìm kiếm thứ gì đó.

“Không còn vỏ sò nữa rồi,” cô nói. “Trước đây ở đây nhiều lắm.”

“Chắc là bị nhặt hết cả rồi.”

Chúng tôi ngồi xuống bên một con thuyền gỗ mắc cạn. Con thuyền rất cũ, lớp sơn bong tróc, phần gỗ bên dưới đã ngả màu đen. Gió mang theo vị mặn tanh ùa tới.

“Dữ Xuyên,” cô nhìn về phía đường chân trời nơi biển và trời giao nhau, “nếu em nói nửa năm nay em còn khổ hơn anh, anh có tin không?”

Tôi không đáp.

“Anh ít ra còn có thể hận em,” cô nói tiếp, “có thể không nhìn em, có thể lạnh nhạt với em. Còn em? Em muốn xin lỗi, anh không nhận; em muốn giải thích, anh không nghe. Mỗi ngày em nhìn anh, nhìn người mình yêu nhất, nhìn em như nhìn một người xa lạ.”

Giọng cô lại nghẹn lại.

“Em đã nghĩ vô số lần, giá như hôm đó không nhận bó hoa đó. Giá như đừng thân thiết với anh ta như vậy. Giá như trả sợi dây chuyền sớm hơn. Nhưng Dữ Xuyên à, hôn nhân là chuyện của hai người. Trước khi em dao động, hai chúng ta đã xảy ra vấn đề rồi, đúng không?”

Sóng biển vỗ vào bờ cát, “rào rào — rào rào —”, như tiếng thở dài.

“Em biết em sai rồi,” cô quay đầu lại, mắt lại đỏ hoe, “em không nên cho người khác cơ hội, không nên giấu anh, không nên có những tạp niệm đó. Nhưng em chưa từng muốn làm tổn thương anh, cũng chưa từng muốn phá hỏng cái nhà này.”

Cô lấy từ trong túi ra chiếc hộp nhung, mở ra. Mặt dây chuyền hình mặt trăng dưới ánnh nắng phản chiếu thứ ánh sáng lấm tấm.

“Hôm nay em vốn định ném nó xuống biển,” cô nói, “nhưng nghĩ lại, nên để anh quyết định.”

Cô đưa chiếc hộp cho tôi.

Sau