Vượt qua ngọn núi ấy

Năm lên sáu tuổi, tôi bị bán vào núi sâu với giá ba trăm đồng.
Hai mươi năm sau, tôi mặc cảnh phục trèo vào núi, cứu ra từng người phụ nữ bị xích lại.
Nhưng người đầu tiên dạy tôi nhận mặt chữ, chỉ cho tôi đường thoát thân, đã nằm lại ở sườn núi sau, mãi mãi không thể quay về.
Núi vùng Vân Quý Xuyên, ngọn này nối ngọn kia, chẳng có điểm cuối.
Hồi nhỏ, tôi cứ nghĩ mình sẽ chết mắc kẹt trong những khe núi đó, cho đến khi có người nói với tôi: “Mày phải trèo ra ngoài trước, người ở bên kia núi mới có hy vọng.”
Sau này tôi thực sự trèo ra được, rồi lại trèo vào không biết bao nhiêu lần, đưa từng người phụ nữ không đáng phải mục nát trong núi ra ngoài.
Nhưng người đã chỉ đường cho tôi ngay từ đầu – bà ấy – đã mãi mãi không thể vượt qua được cái dải núi đó.
Năm tôi lên sáu, tôi bị đem bán.
Ba trăm đồng, một cái bao tải, đặt tôi lên vai một người đàn ông đi ngang qua.
Mẹ tôi rời đi không hề ngoảnh đầu lại, bố tôi ngồi thu mình trên bậc cửa hút thuốc lào, khói che nửa khuôn mặt, chỉ thấy ngón tay cầm điếu cày cứ run lên.
Ba trăm đồng ấy, nghe nói là để nộp tiền phạt vượt kế hoạch cho em trai.
Người mua tôi tên là Phùng Thiết Trụ, ngoài bốn mươi tuổi, độc thân, sống trong một thung lũng ba mặt vực sâu một mặt dốc đứng, muốn ra khỏi núi phải vượt hai ngọn núi, đi mất trọn một ngày.
Ông ta ngồi xổm xuống nhìn tôi, cười toe toét, để lộ hàm răng vàng khè vì khói thuốc: “Cho mày cái tên, gọi là A Nha. Cỏ non dễ sống, cắm xuống đất là lớn lên được. Từ nay mày là con gái tao.”
Ông ta không đánh tôi, cũng không bỏ đói tôi.
Năm mới đầu tiên, ông ta còn may cho tôi một cái áo bông mới nền đỏ hoa nhỏ, đường kim mũi chỉ xiêu vẹo, nhưng rất ấm.
Chỉ có điều, ông ta không cho tôi ra ngoài — sợ người ta biết tôi là con mua về, càng sợ tôi bỏ trốn.
Phạm vi tôi có thể hoạt động chỉ là căn nhà đất đó và cái sân bé xíu trước cửa. Tường sân được xây bằng đá, cao hơn đầu tôi nửa cái, có kiễng chân cũng chẳng thấy bên ngoài. Thứ duy nhất tôi có thể nhìn thấy, là bầu trời xám xịt trên đầu, bị bốn ngọn núi xanh cắt thành một ô vuông méo mó. Trong núi nhiều sương mù, ba trăm sáu mươi lăm ngày thì có đến hai trăm ngày u ám. Mây kéo thấp lắm, vắt ngang ngọn cây, cả nửa ngày không tan.
Tôi thường bê ghế nhỏ ra sân ngồi, ngước lên nhìn những đám mây ấy. Chúng từ phía đông sang, đi về phía tây, vừa vượt qua đỉnh núi là biến mất. Lúc ấy tôi nghĩ: Mây còn biết chạy ra khỏi núi, tôi một người sống sờ sờ, sao lại không thể?
Tôi bị nhốt tròn một năm ba tháng. Hơn bốn trăm ngày trời, tôi học được cách chịu đói, học được cách khi Phùng Thiết Trụ say rượu làm loạn thì chui vào sâu nhất gầm giường, nín thở, bất động.
Ông ta chưa bao giờ bắt tôi gọi là cha, chỉ bảo gọi chú. Ông bảo gọi chú cho thuận miệng. Nhưng dần dần tôi hiểu ra, ông không chịu để tôi gọi cha, là vì trong lòng căn bản chưa từng coi tôi là con gái thật sự — ông vẫn chưa nghĩ kỹ, khi tôi lớn lên, rốt cuộc sẽ xử lý tôi thế nào.
Chuyện này, là bà cụ Vi bên cạnh làm vỡ lẽ. Hôm ấy Phùng Thiết Trụ đi chợ, quên khóa cửa. Tôi đẩy hé khe cửa cho thoáng gió, bà Vi đang chặt rau cho lợn dưới mái hiên. Bà ngẩng lên thấy tôi, sững lại một lát, rồi vẫy tay gọi: “Mi là con bé họ Phùng à?” Tôi gật đầu. Bà ta nhìn tôi từ trên xuống dưới mấy lượt, ánh mắt cứ như đang cân nhắc một món đồ.
“Mi không phải con ruột của nó đúng không?” Bà ta nói, “Tao nghe nó nhắc qua, mi là bỏ tiền ra mua về.”
Lúc ấy tôi căn bản không hiểu “mua về” nghĩa là gì, chỉ nghĩ Phùng Thiết Trụ muốn có một đứa con gái, cũng như nhà khác mong có con trai vậy. Bà Vi kẹp giọng thở dài một tiếng: “Khổ thân… mày mới lớn bằng nào, nó mua mày về, là để dành cho nó đấy.”
“Để dành làm gì ạ?”
Bà Vi không trả lời. Bà chỉ lắc đầu, quay vào nhà, đóng chặt cửa lại.
Đêm hôm ấy, Phùng Thiết Trụ uống khá nhiều rượu. Ông ta ngồi bên bếp lò, vừa uống vừa liếc mắt nhìn tôi, ánh nhìn ướt nhẹp, dính dính, khiến tôi nhớ đến cái cách bà Vi nhìn tôi. Tôi co rúc trong góc giường, toàn thân lạnh toát. Khoảnh khắc ấy, tôi dường như lờ mờ hiểu ra điều gì đó.
Năm thứ hai, mùa hè, Phùng Thiết Trụ dẫn về một người đàn bà.
Cô ấy khoảng hai ba, hai tư tuổi, da trắng tinh tươm, đeo một cặp kính, vừa nhìn đã biết không phải dân trong núi.
Hắn dùng xích sắt khóa cô trong nhà bếp, cho ăn như cho một con chó dữ.
Cô không chịu ăn, hắn liền bóp miệng cô ra mà đổ, đổ cho cô đầy mặt cháo, sặc đến nỗi ho sặc sụa, nước mắt chảy đầy mặt.
Tôi hé cửa nhìn vào trong.
Cô ấy cũng phát hiện ra tôi, qua khe cửa hẹp, cô nhìn chằm chằm vào tôi.
Đó là đôi mắt sáng nhất tôi từng thấy, như hai ngọn lửa, dù bị nhốt trong căn bếp tối và ẩm mốc, ngọn lửa ấy vẫn chưa tắt.
Cô khàn giọng hỏi: “Em cũng bị lừa bán đến à?”
Đó là lần đầu tiên tôi nghe thấy chữ “lừa”.
Tôi nói: “Không phải, em là con gái của chú ấy, em là mua về.”
Mắt cô ấy đỏ hoe ngay lập tức, cô thò một ngón tay qua khe cửa, mát lạnh chạm vào đầu ngón tay tôi.
“Em mấy tuổi?”
“Bảy tuổi.”
“Bảy tuổi…” Cô lẩm bẩm nhắc lại, nước mắt cuối cùng cũng lăn dài, “Em có biết không, hắn mua em về, là để làm gì?”
Tôi không nói gì.
Cô nắm chặt lấy ngón tay tôi, giọng rất nhẹ, nhưng bàn tay lại run lên dữ dội: “Hắn nuôi em lớn, là để lấy em làm vợ đấy.”
Đêm hôm ấy, Phùng Thiết Trụ say rượu, nằm gục bên bếp lò ngủ khò.
Người đàn bà ấy nhân lúc đêm tối đập chiếc vòng ngọc bích trên cổ tay mình vào đá, đập vỡ thành vài mảnh, nhặt mảnh sắc nhất cắt đứt xích sắt.
Cô ấy không chạy thoát.
Cửa bếp bị khóa chặt từ bên ngoài, cô dùng hết sức cũng không đạp văng được.
Phùng Thiết Trụ bị đánh thức, hắn lôi cô ra đánh gần chết.
Tôi trốn dưới gầm giường, nghe tiếng thét của cô càng lúc càng nhỏ dần, đến cuối cùng thì hoàn toàn im bặt.
Tôi tưởng cô đã chết.
Nhưng sáng sớm hôm sau, cô vẫn còn sống, co ro trong góc bếp, người đầy máu, kính vỡ, một mảnh kính còn treo lủng lẳng bên tai.
Cô thấy tôi, môi khẽ mấp máy, không thành tiếng.
Nhưng tôi đọc được khẩu hình của cô — Chạy đi.
Chân cô bị gãy.
Phùng Thiết Trụ thấy cô không còn đi xa được nữa, liền cởi xích sắt, quẳng cô ra ngoài sân.
Cô như một cọng cỏ bị tảng đá đè gãy, ngày ngày ngồi dựa vào gốc tường, từ mặt trời mọc đến mặt trời lặn.
Hắn không biết lấy đâu ra một cành cây làm gậy cho cô chống, để cô có thể di chuyển trong sân.
Cô chống cành cây ấy, bước đến bậu cửa, dạy tôi viết chữ.
“Chữ này đọc là ‘tôi’.”
“Chữ này đọc là ‘đi’.”
“Chữ này đọc là ‘đường’.”
Khi viết chữ “đường”, cô ấy dừng lại rất lâu, rồi chỉ về phía những dãy núi xa xôi sắp hòa tan vào màn sương: “Đường ở bên ngoài núi. Núi có cao đến đâu cũng có đỉnh, đường có xa đến đâu cũng có điểm cuối. Em chỉ cần cứ đi, nhất định sẽ đi ra được.”
Lúc ấy tôi còn chưa từng đi trên con đường nào.
Nơi xa nhất tôi từng đến, chỉ là cái sườn đồi xanh thẫm phía ngoài bức tường sân.
Cô ấy bảo bên ngoài núi có tàu hỏa, có nhà cao tầng, có biển.
Biển còn lớn hơn núi, xanh thăm thẳm, nhìn mãi không thấy bờ.
Tôi hỏi, em chưa từng thấy biển thì làm sao?
Cô ấy nói: “Em nhắm mắt lại mà tưởng tượng.”
Tôi nhắm mắt, cố nghĩ ra một màu xanh lam.
Trước mắt tôi hiện lên vẫn là núi.
Cô ấy thở dài, lấy cành cây vẽ xuống đất: trước nhất vẽ một ngọn núi, rồi vẽ thêm một ngọn nữa, rồi lại một ngọn nữa, cuối cùng ở phía bên kia những ngọn núi, cô vẽ một đường lượn sóng ngoằn ngoèo: “Đây là biển. Rồi sẽ có một ngày, em tận mắt nhìn thấy nó.”
Tôi tin.
Bởi vì tôi biết, cô ấy chưa bao giờ lừa tôi.
Cô ấy nói với tôi, tên cô là Đào Nhiên, người thành Xuyên, vừa tốt nghiệp đại học, bị một người bạn cũ lừa bảo đi chơi núi, quay ngoắt một cái đã bị bán.
Cô ấy bảo bố mẹ cô nhất định đang tìm cô, chỉ là không biết cô bị nhồi vào khe núi nào thôi.
Nói đến đây, mắt cô ấy thoáng tối lại.
Nhưng ngọn lửa ấy rất nhanh đã sáng trở lại: “Chị sẽ không chết ở đây. Em cũng vậy.”
Đào Nhiên sống trong ngọn núi này suốt bảy tháng ròng.
Bảy tháng ấy, là khoảng thời gian duy nhất có ánh sáng trong hai năm từ sáu đến bảy tuổi của tôi.
Cô ấy dạy tôi viết chữ, nhận biết con số, đọc thơ, kể cho tôi nghe về thế giới bên ngoài núi, về khu phố cổ Khoan Trách ở Xuyên Thành, về thư viện trong trường đại học, về nhà văn cô yêu thích nhất – Tam Mao.
Cô ấy kể về Tam Mao, mắt liền sáng lên: “Tam Mao có câu nói, ‘Trái tim nếu không có nơi để dừng chân, thì đến đâu cũng chỉ là phiêu bạt’.”
Lúc ấy tôi còn chưa hiểu nổi hai chữ “dừng chân”, chỉ nhớ được cái tên Tam Mao.
Cô ấy còn dạy tôi một bài hát, giai điệu mềm mại, như thể từ rất xa lắm bay tới: “Đừng hỏi tôi từ đâu đến, quê hương tôi ở phương xa…”
Hát đến đâu, cô ấy khóc đến đấy.
Tôi sợ cô ấy khóc, lại chẳng biết dỗ thế nào, đành phải khóc theo.
Phùng Thiết Trụ ghét nhất chúng tôi khóc, hễ nghe tiếng khóc là quăng đồ, chửi bới um sùm bảo xúi quẩy.
Sau này cô ấy chỉ dám khóc vào ban đêm.
Nửa đêm, cả ngọn núi đã ngủ say, một mình cô ấy co ro trong góc bếp, vùi mặt vào đầu gối, khóc không thành tiếng.
Tôi ở cách vách, nghe tiếng cô ấy hít khí, từng hồi từng hồi, như cái ống bễ bị thủng lỗ.
Đó là thứ âm thanh xé lòng nhất mà tôi từng nghe.
Đào Nhiên chết vào tháng Bảy, một ngày mưa.
Hôm ấy mưa lớn tầm tã suốt đêm, nước lũ trên núi đổ xuống, trong sân ngập nửa thước, Phùng Thiết Trụ sang làng bên uống rượu, sáng hôm sau mới về.
Hắn đẩy cửa bếp ra, người bên trong đã lạnh ngắt.
Cô ấy xé chiếc áo sơ mi hoa của mình thành từng dải vải, buộc lên xà nhà, thắt cổ tự vẫn.
Phùng Thiết Trụ đứng ở cửa ngẩn người một hồi, chửi một câu rất khó nghe, rồi quay người ra gọi bà Vi vào thu xác.
Bà Vi bước vào, thấy tôi ngồi thu lu trong góc tường, liền kéo tôi dậy, lấy bàn tay thô ráp lau mặt tôi: “Đừng khóc nữa. Chết là tốt rồi, chết là giải thoát.”
Lúc ấy tôi còn chưa hiểu thế nào là “giải thoát”.
Tôi chỉ biết rằng, sẽ không còn ai dạy tôi viết chữ nữa, sẽ không còn ai kể cho tôi nghe về biển nữa.
Phùng Thiết Trụ chôn cô ấy ở sườn đồi phía sau, không dựng nổi một tấm bảng gỗ.
Hắn bảo, người ngoại tỉnh chết trong núi, một manh chiếu là đủ, dựng bảng chỉ phí gỗ.
Đợi hắn đi xa, tôi lén lần tới đống đất mới ấy, ngồi xổm xuống, lấy cành cây viết chữ lên nền đất.
Viết chữ “tôi”, viết chữ “đi”, rồi viết chữ “đường”.
Viết xong, tôi nằm úp xuống, áp tai vào mặt đất.
Tôi nghe thấy tiếng mưa, nghe thấy tiếng gió, nghe thấy tiếng sấm xa xa từ những ngọn núi xa.
Chỉ là không nghe thấy cô ấy.
Cô ấy thực sự đã đi rồi.
Sau khi Đào Nhiên chết, tôi trở nên không biết nói.
Cũng không phải không muốn nói, mà là không biết nói với ai.
Phùng Thiết Trụ bắt tôi làm việc: cho lợn ăn, chặt củi, quét nhà, giặt quần áo. Làm không tốt thì bị chửi, chửi xong lại làm tiếp.
Ánh mắt hắn nhìn tôi, ngày một khác xưa.
Trước kia còn có chút hơi ấm, như nhìn một đứa trẻ.
Nhưng từ sau khi Đào Nhiên chết, chút hơi ấm ấy biến mất, chỉ còn lại cái nhìn trần trụi như đang cân nhắc một món đồ.
Năm tôi mười tuổi, hắn động thủ.
Đêm ấy hắn uống rất nhiều rượu, say khướt lần mò tới bên giường tôi.
Tôi sợ hãi thét lên, hắn liền một tay bịt miệng tôi, hạ giọng dỗ dành: “Đừng la, đừng la, A Nha ngoan nào. Chú nuôi mày bấy nhiêu năm, mày cũng nên báo đáp chú rồi…”
Tôi cắn hắn một cái, cắn thẳng vào huyệt hổ khẩu.
Hắn vung tay tát tôi một cái, đánh đến nỗi nửa mặt tê dại, tai ù đi, miệng đầy mùi tanh.
Rồi hắn bỏ đi.
Sáng hôm sau, ánh mắt hắn nhìn tôi u ám như muốn nhỏ ra nước.
Tôi biết chuyện này chưa kết thúc.
Tôi bắt đầu sợ trời tối.
Mỗi khi đêm xuống, tôi lại kê ghế gỗ chặn sau cửa, giấu dao thái dưới gối, suốt đêm không dám chợp mắt.
Đêm trong núi dài quá, dài như không có điểm cuối.
Năm tôi mười một tuổi, mùa thu, Phùng Thiết Trụ lên núi chặt củi, trượt chân ngã từ vách đá xuống.
Người trong làng khiêng hắn về, lúc ấy đã tắt thở, đầu lõm vào một mảng, người đầy máu.
Hắn không có người thân trên đời này, không bạn bè, đến cả một người chịu lo hậu sự cho hắn cũng không tìm ra.
Người trong làng đặt hắn trong nhà chính, đắp một tấm vải trắng, rồi bỏ đi.
Tôi ở trong căn nhà ấy canh ba ngày.
Cũng không hẳn là canh cho Phùng Thiết Trụ, mà là tôi không biết sau này phải làm sao.
Tôi muốn đi, nhưng vừa ra tới đầu làng đã bị chặn lại.
Bí thư chi bộ làng nói tôi là đứa con nuôi của Phùng Thiết Trụ, trước khi tìm được nhà tiếp theo, không được rời làng.
Tôi hiểu hắn ta đang tính toán gì.
Trong làng đã có người bắt đầu dò hỏi, bảo con bé họ Phùng năm nay mười một rồi, biết làm việc, dẫn về nuôi, lớn lên cho con trai nhà mình làm vợ lẽ là vừa.
Tôi không muốn trở thành Đào Nhiên thứ hai.
Đêm thứ ba, tôi gói một cái bọc vải nhỏ, nhét vào nửa túi lương khô, một con dao chặt củi, một bộ quần áo để thay, trèo qua cửa sổ chạy trốn.
Tôi men theo đường núi, cứ đi, cứ đi.
Không biết đường, không biết phương hướng, chỉ biết phải đi ra khỏi núi.
Đi chưa được hai tiếng, trời đã tối đen như mực.
Trong núi không có đèn đường, mặt trăng lại bị mây nuốt chửng, tối đến nỗi không thấy cả bàn tay.
Tôi ngã vô số lần, đầu gối rách toạc, lòng bàn tay đầy sỏi đá, còn bị mất một chiếc giày.
Vừa lạnh vừa đói vừa sợ, tôi co ro trong kẽ đá bên đường, run lên từng hồi, tưởng mình sẽ chết ở đây.
Ngay lúc ấy, tôi nghe thấy tiếng gõ chậu.
Bịch… bịch bịch… bịch…
Ba tiếng dài, hai tiếng ngắn.
Từ rất xa truyền tới, nghe nghèn nghẹt, nhưng từng nhịp từng nhịp không dứt, như thể một người đã dồn hết sức lực cuối cùng vào đáy cái chậu ấy.
Tôi không hiểu âm thanh ấy có nghĩa gì.
Nhưng tôi đã đứng dậy.
Âm thanh ấy dường như đang nói: Mày không phải chỉ có một mình.
Tôi lần theo âm thanh mà đi.
Đi khoảng hơn một tiếng, âm thanh dừng lại.
Tôi sững người giữa chốn tối đen bốn bề.
Rồi tôi nhìn thấy trên sườn núi đối diện lóe lên một tia sáng — là một tấm gương, ai đó cầm trong tay, hắt ánh trăng từng nhịp từng nhịp về phía tôi, như đang đánh tín hiệu.
Tôi đi về phía tia sáng ấy.
Đến gần nơi, ánh sáng tắt, trong lòng thung lũng vọng ra một giọng đàn bà khe khẽ, giọng thổ ngữ rất nặng, nhưng tôi nghe hiểu: “Đi về phía đông, đừng đi đường lớn, đi theo sống núi. Gặp ngã ba thì rẽ trái, thấy nhà trắng thì rẽ phải, ba ngày là tới thị trấn.”
Tôi không nhìn rõ mặt bà, cũng chẳng biết bà là ai.
Nhưng tôi đã khắc câu nói ấy, từng chữ từng chữ, vào trong đầu.
Trời gần sáng, tôi lại lạc đường.
Đang không biết đi đâu, bỗng thấy trên cành cây phía trước có buộc một dải vải đỏ.
Dải vải đã bạc màu, mép đã xơ ra, rõ ràng đã buộc ở đó rất lâu.
Tôi vẫn bước về phía nó, rồi nhìn thấy dải thứ hai, thứ ba, thứ tư.
Sau này tôi mới biết, đó không phải chuẩn bị riêng cho tôi.
Đó là con đường trốn thoát bí mật mà những người đàn bà bị bán vào núi đã gầy dựng qua năm tháng dài.
Họ nhân lúc chăn bò, chặt củi, buộc dọc đường những dải vải đỏ, xếp những mũi tên bằng đá, chỉ đường cho bất cứ ai muốn chạy trốn.
Còn chính họ, cả đời chưa từng men theo con đường ấy mà đi ra nổi.
Đêm ấy, thứ thực sự đưa tôi ra khỏi núi, là ánh phản chiếu của tấm gương ấy.
Là một người nào đó nhìn thấy một bóng đen đang loạng choạng chạy, liền không một tiếng động giơ gương lên, lắc qua lắc lại hết lần này đến lần khác.
Tôi men theo những dải vải đỏ trèo qua ngọn núi đầu tiên, đứng trên đỉnh nhìn xuống, sững sờ.
Dưới chân núi, một con đường đất hẹp ngoằn ngoèo chạy về phía xa.
Phía cuối con đường vẫn là núi, nhưng phía này con đường, là thứ rộng nhất và bằng phẳng nhất mà tôi từng thấy trong đời.
Tôi ngồi bệt trên đỉnh núi, khóc một trận thật đã.
Khóc xong, lại tiếp tục đi.
Tôi đi bốn ngày ba đêm.
Đói thì nhai quả dại, lá cây, rễ cỏ, những bọt máu ở chân xước ra rồi đóng vảy, đóng vảy rồi lại xước ra, cuối cùng đế giày và lòng bàn chân dính chặt vào nhau, không còn phân biệt được đâu là vải, đâu là da thịt.
Nhưng tôi không dừng lại.
Bởi vì mỗi khi tôi lạc đường, luôn có người giúp tôi.
Một đống đá, một cành cây gãy, nửa đoạn cành khô cắm trong bùn.
Những tín hiệu ấy như một sợi dây vô hình, kéo tôi về phía có người.
Tôi biết tất cả những điều này là do ai làm.
Là những người đàn bà trong núi, không thể đi ra nổi.
Chính họ không thể đi ra.
Nhưng họ muốn tôi đi ra.
Chiều ngày thứ tư, cuối cùng tôi cũng lết được tới con đường đất.
Một con đường lầy lội, đầy ổ gà, vết bánh máy kéo và xe bò in hằn lên, nhưng trong mắt tôi, nó rộng mênh mông như một biển nước.
Tôi đứng bên đường, toàn thân đầy thương tích, đầy bùn đất, đầy nước mắt.
Một chiếc xe tải từ xa lao tới, đèn pha xé toạc màn hoàng hôn, chiếu thẳng vào người tôi.
Tài xế thò đầu ra: “Cô bé, một mình cháu ở đây làm gì thế?”
Cổ họng tôi đã khản từ lâu, môi nứt ra mấy đường máu, tôi há miệng, cuối cùng cũng ép ra được hai tiếng: “Cứu… với…”
Tài xế xe tải đưa tôi đến đồn công an ở thị trấn.
Cảnh sát hỏi tôi rất nhiều câu, tôi trả lời ngắt quãng.
Nghe nói tôi đi bộ từ trong núi ra, ban đầu họ không mấy tin.
Một đứa bé gái mười một tuổi, vượt hai ngọn núi, đi mấy chục cây số, một mình chịu đựng bốn ngày ba đêm — nói ra ai mà tin?
Nhưng đôi bàn chân lở loét đến không ra hình thù gì của tôi, không thể làm giả được.
Họ chụp ảnh, ghi biên bản, rồi đưa tôi đến trại cứu tế của huyện.
Cô ở trại cứu tế tắm rửa cho tôi, thay quần áo, bưng cơm nóng lên.
Đó là bữa cơm ngon nhất trong đời tôi từng được ăn.
Tôi ăn ba bát, no đến nỗi bụng đau nhói, vẫn còn xúc cơm bỏ vào miệng.
Cô giữ bát tôi lại: “Đừng ăn nữa, đừng ăn nữa, ngày mai còn mà.”
Tôi nói: “Cháu sợ ngày mai hết mất.”
Mắt cô đỏ hoe ngay lập tức.
Cô ngồi xổm xuống, kéo tôi vào lòng: “Sẽ không hết đâu. Từ nay về sau ngày nào cháu cũng có cơm ăn, cô hứa.”
Đó là lần đầu tiên trong đời tôi có ai đó hứa với tôi một điều gì.
Tôi khóc rất lâu trong lòng cô.
Khóc như một đứa trẻ lên sáu.
Mặc dù tôi đã mười một rồi.
Tôi ở trại cứu tế ba tháng.
Trong ba tháng ấy, cảnh sát giúp tôi tra hộ khẩu, tra lai lịch của Phùng Thiết Trụ, cũng tra xem rốt cuộc tôi đã vào núi bằng cách nào.
Cuối cùng tra ra, tôi bị chính cha mẹ ruột bán đi.
Họ hỏi tôi có muốn quay về tìm họ không.
Tôi nói không.
Lại hỏi vậy cháu muốn đi đâu?
Tôi nói, cháu muốn đi học.
Đào Nhiên đã từng nói, núi cao không nhốt được người, thứ nhốt được người là ngọn núi trong đầu.
Ngọn núi trong đầu mà vượt qua được, thì ngọn núi dưới chân sẽ không nhốt được cháu nữa.
Tôi được đưa vào trại phúc lợi trẻ em ở thành phố.
Viện trưởng họ Ngô, tên là Ngô Hương Mai, ngoài năm mươi tuổi, tóc ngắn, mặt tròn, giọng to đến nỗi có thể lật tung mái nhà.
Lần đầu gặp tôi, bà nhìn tôi từ đầu đến chân: “Cháu tên là A Nha à?”
Tôi gật đầu.
Bà nói: “Cái tên này không hay, bà đổi cho cháu một cái.”
Bà lật một cuốn từ điển ra, nhìn chăm chú hồi lâu, rồi chỉ vào một chữ: “Từ nay cháu tên là Chu Châu. Châu là con thuyền đưa người qua sông. Trước hết hãy đưa mạng sống của mình cập bến, sau này có bản lĩnh rồi, thì đi đưa người khác.”
Chu Châu.
Tôi có tên rồi.
Tôi có họ rồi.
Viện trưởng Ngô gửi tôi đi học tiểu học.
Tôi học nhảy vào lớp hai, lớn hơn các bạn cùng lớp hai ba tuổi. Khi chúng bạn học pinyin, tôi ngay cả tiếng phổ thông còn nói chưa sõi. Khi chúng bạn học thuộc bài, tôi vẫn còn đang nhìn vào sách giáo khoa, từng chữ từng chữ mà nhận. Nhưng chúng bạn không cười tôi. Viện trưởng Ngô đã dặn trước với họ: “Bạn Chu Châu đến từ một nơi rất xa, bạn ấy chưa từng đi học, các em phải giúp đỡ bạn ấy.”
Cô giáo chủ nhiệm của tôi họ Bạch, là một cô giáo trẻ, tóc buộc đuôi ngựa, cười lên có hai lúm đồng tiền. Biết được hoàn cảnh của tôi, cô giáo mỗi ngày sau tan học đều ở lại phụ đạo cho tôi, bắt đầu dạy từ thanh mẫu vận mẫu. Tôi học rất chậm, một chữ phải viết mấy chục lần mới nhớ nổi, một chữ pinyin phải đọc cả trăm lần mới đọc đúng. Nhưng cô Bạch chưa bao giờ sốt ruột. Cô nói: “Em một mình đi bộ bốn ngày ba đêm còn có thể từ trong núi đi ra được, mấy quyển sách này tính là gì?” Tôi nghĩ, cũng đúng. Tôi ngay cả núi còn vượt qua được, thì sợ gì không vượt qua được mấy trang giấy?
Mấy năm ấy, tôi học như điên. Mỗi ngày năm giờ rưỡi sáng đã chui trong chăn mượn đèn pin đọc sách, tối đến tắt đèn rồi, tôi ngồi xổm trong nhà vệ sinh, nhờ ánh đèn mà làm bài tập. Cuối tuần mấy đứa trẻ khác ra ngoài chơi, tôi ôm sách giáo khoa ở lại trong lớp. Bọn trẻ trong trại phúc lợi đều nói tôi kỳ lạ, nói tôi là mọt sách, nói Chu Châu cái người này thật chán. Tôi không quan tâm. Trong đầu tôi chỉ có một suy nghĩ duy nhất: đi ra ngoài, đi đến bờ biển mà Đào Nhiên từng nói tới. Cảnh biển mà cô ấy chưa từng được thấy, tôi sẽ thay cô ấy mà đi xem.
Hết tiểu học, tôi thi đỗ thứ ba toàn huyện. Ba năm cấp hai, tôi giành năm thứ nhất toàn khối mỗi năm. Cấp ba thi đỗ trường tốt nhất thành phố, thành tích chưa bao giờ rớt khỏi top mười. Ngày thi đại học, tôi soi gương rất lâu. Cô gái trong gương hai mươi tuổi, đen, gầy, tóc ngắn, mắt sáng lấp lánh. Tôi có chút không nhận ra cô ấy. Nhưng Đào Nhiên chắc hẳn sẽ nhận ra. Cô ấy đã từng nói, đợi tôi lớn lên, sẽ không còn là A Nha trong núi nữa, mà là một người khác ở bên ngoài núi.
Ngày có kết quả thi, tôi chạy ba vòng trên sân vận động. Tôi thi đỗ vào trường cảnh sát. Viện trưởng Ngô gọi điện đến khóc: “Bà đã nói sớm mà, cháu làm được mà.” Tôi nói: “Viện trưởng, cháu muốn làm cảnh sát.” “Làm loại cảnh sát gì?” “Cảnh sát chống buôn bán người.” Đầu dây bên kia im lặng hồi lâu. Cuối cùng bà nói: “Tốt. Đi đi, đó là nơi cháu nên đến.”
Bốn năm trường cảnh sát, tôi liều hơn ai hết. Người khác chạy năm cây số, tôi chạy mười cây số; người khác luyện thể lực một tiếng, tôi dùng hết ba tiếng. Giáo quan nói tôi không biết quý mạng sống. Tôi nói, chính vì tôi quý mạng sống, nên mới liều như vậy. Tôi biết sau này mình sẽ phải đối mặt với những kẻ nào — bọn buôn người, bọn mua người, những thứ coi phụ nữ như súc vật để mua đi bán lại. Bọn chúng sẽ không vì tôi là cảnh sát mà nương tay. Tôi phải cứng rắn hơn chúng.
Trong các lớp chuyên ngành, tôi học tâm lý học, tội phạm học, kỹ thuật thẩm vấn, luận văn tốt nghiệp viết chính là về đặc điểm tội phạm buôn bán phụ nữ. Giáo sư hướng dẫn đọc xong im lặng rất lâu, hỏi tôi tại sao lại chọn đề tài này. Tôi nói: “Bởi vì em đã từng ở đó mà ra.” Giáo sư gật đầu: “Em sẽ trở thành một cảnh sát tốt.”
Phân công tốt nghiệp, tôi điền nguyện vọng vào vùng núi Vân Quý. Ngày báo đến, Cục trưởng nhìn lý lịch của tôi, lại ngước lên nhìn tôi: “Chu Châu?” “Có mặt.” “Tại sao em lại quay về đây?” “Bởi vì nơi này thiếu người.” Cục trưởng im lặng một lát: “Chỗ này núi cao đường xa, dân phong hung hãn, chống buôn bán người khó khăn lắm. Năm năm qua, tỷ lệ thành công chống buôn bán người của cục chúng ta chưa đến ba phần.” “Em biết.” “Em không sợ?” “Không sợ.” Ông ấy ký vào phiếu phân công: “Đi Ban chống buôn bán người. Nhưng tôi nói trước, người trong núi sẽ không dễ dàng tin em. Em là cảnh sát, họ càng không tin.” Tôi nói: “Em sẽ không mặc cảnh phục vào núi.”
Tôi chuẩn bị suốt ba tháng.
Lật tung toàn bộ hồ sơ hộ khẩu của tất cả các xã, thị trấn trong vùng núi đó. Phần lớn những người phụ nữ bị bán vào núi đều bị xóa hộ khẩu gốc, thay vào đó là những cái tên tiện tay đặt như A Đệ, Lai Đệ, Chiêu Đệ, Đới Đệ, Dẫn Đệ – cứ như thể sợ người khác không biết họ là hàng mua về. Tôi cầm bút ghi chép từng cái một, đánh dấu những chấm đỏ trên bản đồ, chi chít như một tấm lưới trải khắp núi rừng.
Tôi lại tra xem những người đàn ông của họ là ai, nhà có mấy miệng ăn, ở thôn nào, xóm nào, có tiền án tiền sự không, bình thường có ở nhà không. Những thông tin vụn vặt, rải rác trong các hồ sơ, tôi từng chút một ghép lại. Thường xuyên tăng ca đến tận khuya, cả tòa nhà chỉ còn một bóng đèn của Ban chống buôn bán người là còn sáng. Đồng nghiệp bảo tôi đừng có liều mạng. Tôi nói: “Họ đã đợi bao nhiêu năm rồi, không thể đợi thêm được nữa.”
Ngày vào núi là tháng Ba. Cái lạnh trong núi vẫn chưa tan hết, hoa cải dầu ven đường nở nghiêng ngả. Tôi không mặc cảnh phục, khoác một chiếc áo bông xám xịt, đeo một cái túi vải cũ, giả làm giáo viên tình nguyện. Xe Jeep đến chân núi là không leo lên được nữa. Đoạn đường còn lại, phải dùng hai chân mà đi.
Tôi vác hành lý leo lên núi. Núi vẫn là những ngọn núi ấy. Y hệt như lúc tôi mười một tuổi trốn thoát – xanh thẫm, xanh đen, mờ mờ ảo ảo, lớp này chồng lên lớp kia, chồng đến tận chân trời. Chỉ có điều, lần này tôi không phải trốn. Tôi là quay trở lại.
Đi gần nửa ngày, cuối cùng cũng thấy ngôi làng đầu tiên. Dưới gốc cây hòe già đầu làng có một người đàn bà ngồi, ôm một đứa trong lòng, bên cạnh còn dính thêm hai đứa nữa. Tóc bà đã bạc quá nửa, mặt mũi đầy phong sương, trông như ngoài năm mươi. Nhưng tôi nhớ từ hồ sơ hộ khẩu, năm nay bà mới ba mươi hai tuổi.
Tôi đến gần, bà ngẩng đầu lên. Trong khoảnh khắc bốn mắt chạm nhau, máu trong người tôi như lạnh đi một nửa. Tôi đã từng thấy đôi mắt như thế. Trong mắt Đào Nhiên từng có, trong mắt những người đàn bà gõ chậu trong đêm cũng có – đó là tia lửa leo lét cuối cùng của một người sắp bị dập tắt hoàn toàn, vẫn còn cố gắng giãy giụa.
Thấy tôi ngẩn người, bà khàn giọng hỏi một câu gì đó. Tôi trấn tĩnh lại, dùng tiếng địa phương nói với bà: “Chị ơi, em là giáo viên tình nguyện mới đến, muốn ở nhờ trong làng hai đêm, có được không ạ?” Bà ngẩn ngơ nhìn tôi rất lâu, môi mấp máy, không trả lời. Đứa trong lòng khóc, bà cúi xuống dỗ, nước mắt cũng theo đó từng giọt từng giọt rơi xuống.
Bà tên là Ngọc Trân. Cái tên này là do người mua bà đặt. Còn tên thật của bà, bà nói không nhớ nổi, cũng không muốn nhớ. Hễ nhớ đến, là đau.
Đêm thứ ba tôi ở nhà bà, bà chợt lên tiếng. Đèn đã tắt, trong nhà tối om, ánh trăng xuyên qua ô cửa giấy, rơi xuống một mảng trắng nhỏ. Bà nói: “Cô không phải giáo viên.” Tôi không nói gì. Bà nói: “Cách cô đi không đúng. Đàn bà trong núi, không đi như thế.” Tôi trở mình ngồi dậy, nhìn bà. Trong bóng tối không thấy rõ mặt bà, nhưng ánh mắt bà đặt trên người tôi, sắc như một con dao. “Cô là ai?”
Tôi nghĩ ba giây. Rồi tôi nói: “Tôi cũng là người từng đi ra từ trong ngọn núi này. Năm tôi mười một tuổi, tôi chạy khỏi thôn Phùng Gia Ảo, đi bộ bốn ngày ba đêm, vượt hai ngọn núi, ngã xuống đường lộ, mới có người cứu.”
Hơi thở của chị ấy nặng nề hơn một chút.
Rồi tôi nghe thấy tiếng khóc thầm, khóc rất lâu.
Khóc xong, chị ấy từ dưới gối mò ra một thứ, đưa vào tay tôi.
Đó là một mảnh vải xanh hoa trắng, đã giặt đến bạc màu, xơ cả mép, góc cạnh đều cuộn tròn lại. Trên mảnh vải có vẽ bằng than một tấm bản đồ ngoằn ngoèo — núi, sông, đường, và những vòng tròn nhỏ. Bên cạnh mỗi vòng tròn, đều có một cái tên. Có tên bị gạch ngang, có tên được khoanh tròn, có tên được vẽ thêm một chữ thập nhỏ.
“Những năm này, tôi lén ghi lại đấy.” Giọng Ngọc Trân rất bình thản. Nhưng tay đưa vải cho tôi, vẫn không ngừng run.
“Người chạy được thì đều chạy rồi. Người chạy không thành… Người chạy không thành, đều nằm dưới đất cả rồi.”
Tôi đếm thử. Tổng cộng ba mươi hai cái tên. Bị gạch ngang là người đã chết, được khoanh tròn là người còn sống. Vẽ chữ thập, là người chết trên đường chạy trốn. Còn sống, còn mười chín người.
“Họ đều ở đâu?”
Ngọc Trân cúi người, chấm chấm trên bản đồ: “Có người tôi có thể gửi lời, có người gửi không được.”
“Gửi thế nào?”
“Gõ chậu. Xếp đá. Phơi quần áo.”
Chị ấy nói một cách bình thản, nhưng sống lưng tôi lại nổi da gà. Những người phụ nữ này, không có điện thoại, không dám viết thư, sợ bị đàn ông phát hiện, chỉ có thể dùng những cách ngu ngốc nhất để truyền tin cho nhau.
“Dùng tín hiệu gì?”
“Ba dài hai ngắn.”
Tim tôi chùng xuống. Đêm tôi mười một tuổi nghe thấy, chính là ba dài hai ngắn.
Hôm sau, tôi lấy danh nghĩa đi dạy tình nguyện, từng làng từng làng một mà đi. Đường núi khó đi, nắng thì một thân đầy bụi, mưa thì hai chân lấm bùn, có khi một ngày chỉ đi được một làng, đi không tới thì ngủ lại nửa đường.
Mỗi lần đến một làng, tôi đều tìm cách bắt chuyện với những người phụ nữ đã xác định được. Có người đang giặt đồ bên suối, có người đang cấy lúa ngoài đồng, có người đang chăn bò trên sườn núi. Tôi giả vờ đi ngang qua, nói vài câu, đưa một nắm kẹo.
Phần lớn thời gian, họ không để ý đến tôi. Không phải không muốn để ý, là không dám. Họ từng bị họ hàng lừa, bị bạn học lừa, bị người tuyển dụng lừa, tin một lần là hỏng một lần, nên đành không tin bất cứ ai nữa.
Tôi không bao giờ thúc ép. Tôi chỉ ngồi xổm bên cạnh giúp họ làm việc, kể chuyện cho con họ nghe, kể về tàu hỏa nhanh thế nào, nhà cao tầng cao bao nhiêu, biển rộng lớn ra sao.
Khi kể những điều này, tôi lén nhìn vào mắt họ.
Phần lớn đáy mắt họ là màu xám, như tro tàn đã nguội lạnh. Nhưng thỉnh thoảng, rất hiếm khi, trong mắt ai đó lại “bụp” sáng lên một tia, rồi vụt tắt ngay. Thứ tôi muốn tìm, chính là tia sáng ấy. Chỉ cần tia lửa chưa tắt, người đó vẫn còn cứu được.
Người đầu tiên nói muốn đi theo tôi, tên là Thúy Hoa. Ba mươi bốn tuổi, vào núi đã mười sáu năm. Hôm ấy cô ấy đang vò quần áo bên sông, tay ngâm trong nước lạnh, cóng đến đỏ ửng, nhưng vò rất mạnh, như thể có thù oán với cái áo vậy. Tôi ngồi xổm bên sông bắt chuyện, cô ấy không thèm để ý.
Tôi im lặng một lúc, rồi hỏi một câu liều lĩnh: “Chị có quen Ngọc Trân không?”
Tay cô ấy khựng lại. Mặt nước gợn từng vòng, bóng người tan vỡ. Rất lâu sau, cô ấy ngẩng đầu lên, ánh mắt pha lẫn cảnh giác, dò xét, và một chút hy vọng đã kìm nén nhiều năm, không dám thừa nhận: “Cô là ai?”
“Tôi là người có thể đưa chị đi.”
Môi cô ấy run lên. “Cô đến muộn rồi.”
“Sao ạ?”
“Tôi đi không được nữa.”
Sau này cô ấy mới kể cho tôi, cô ấy đã sinh bốn đứa con. Ba đứa đầu là con gái, bị người đàn ông đó ôm đi bán, không biết bán đi đâu. Chỉ giữ lại đứa thứ tư, là con trai, vừa là mạng sống để cô ấy còn trụ lại, cũng vừa là xiềng xích trên người cô.
“Tôi chạy rồi, nó thì sao?”
Tôi nói: “Chị mang nó đi cùng.”
Cô ấy lắc đầu: “Cha nó sẽ không buông tay. Đó là đứa cháu trai duy nhất của nhà họ Phùng.”
Tôi nói: “Chúng ta có thể đi theo pháp luật.”
Cô ấy nhìn tôi, cười khổ: “Cô gái trẻ ngoài hai mươi, cô nghe thử xem, người trong núi này coi pháp luật là cái gì?”
Tôi không trả lời được. Nhưng tôi vẫn ghi cô ấy vào danh sách.
Đào Nhiên từng nói, người đàn bà trong núi, điều quan trọng nhất không phải là được người ta cứu, mà là trước hết phải biết mình có đáng được cứu hay không. Họ bị nhốt quá nhiều năm, bị đánh đến sợ rồi, từ lâu đã quên mất mình là một con người. Tôi phải giúp họ nhớ lại: chị xứng đáng.
Người thứ hai nói muốn đi theo tôi, tên là Kim Lan. Hai mươi sáu tuổi, là người trẻ nhất trong số đó, vào núi mới có năm năm. Nhưng năm năm, cũng đã đủ để mài một con người thành một con người khác. Nghe nói lúc mới đến cô ấy rất dữ, tuyệt thực, đập đầu vào tường, cắn lưỡi, đủ thứ đều thử, người mua phải trói cô ấy lên giường ba tháng trời cô mới chịu yên.
Bây giờ cô ấy cũng biết cười, cũng nói chuyện với người ta, cũng nấu cơm chăm con. Nhưng nụ cười ấy là giả, chỉ treo ở khóe miệng, không đến được mắt.
Đêm tôi ngủ nhờ nhà cô ấy, đợi người đàn ông ngủ say, cô ấy lén mò tới bên giường tôi ngồi xổm xuống, nắm chặt tay tôi: “Cô là đến cứu bọn tôi, đúng không?”
“Đúng.”
“Bao giờ đi?”
“Sớm nhất là tháng sau.”
Cô ấy buông tay tôi ra, từ trong lớp áo sát người móc ra một tờ giấy, nhét vào lòng bàn tay tôi. Tờ giấy nhăn nhúm, viết đầy chữ. Cô ấy nói: “Đây là tôi viết, viết mấy năm rồi, vẫn không có cơ hội gửi đi. Cô có thể giúp tôi gửi nó không?”
Nhờ ánh trăng, tôi nhìn rõ trên đó viết: “Mẹ ơi, con vẫn còn sống. Con ở trong núi, không ra được. Mẹ đừng tìm con nữa, đừng tiêu tiền oan uổng nữa. Là con không hiểu chuyện, không nên đi theo người đó…”
Tôi không dám đọc hết. “Thư tôi sẽ giúp chị gửi. Nhưng tôi sẽ không để mẹ chị lên đây tìm chị, bởi vì tôi sẽ tự tay đưa chị về tận tay bà ấy.”
Kim Lan sững người. Rồi cô ấy cười. Lần này, nụ cười cuối cùng cũng chạm tới đáy mắt.
Tôi mất hai tháng, phỏng vấn được mười lăm trong số mười chín người trong danh sách.
Bốn người còn lại ở trong thôn nằm sau dãy núi cao hai nghìn mét, với thể lực và trang bị lúc đó của tôi, một mình đi thì quá mạo hiểm.
Tôi trước hết tổng hợp tình hình của mười lăm người hiện có thành một bản báo cáo, nộp lên.
Cấp trên xem rất lâu: “Em xác nhận, mười lăm người này đều sẵn sàng phối hợp?”
“Xác nhận.”
“Em xác nhận họ sẽ không đổi ý?”
“Không xác nhận.”
“Thế em vẫn báo cáo?”
“Vì họ không thể chờ thêm được nữa.”
Cấp trên lại im lặng một hồi, nói: “Được, tôi sẽ điều người cho em. Nhưng có một điều kiện: hành động phải hoàn thành trong vòng một tháng. Thời gian kéo dài càng lâu, khả năng lộ tin càng lớn.”
“Rõ.”
“Ngoài ra, em không thể chỉ cứu mười lăm người em đã tiếp xúc. Ngày hành động, toàn bộ các vụ liên quan đến buôn bán người trong khu vực sẽ được xử lý cùng lúc.”
“Rõ.”
Hành động được ấn định vào ngày 23 tháng Chạp, Tết ông Công ông Táo.
Người trong núi ngày đó cúng Táo quân, giết gà mổ dê, đàn ông như thường lệ uống say mèm – đây chính là thời cơ tốt để ra tay.
Cục điều động hơn năm mươi cảnh sát, chia thành mười hai tổ nhỏ, đồng thời vào núi.
Tôi dẫn tổ một, mục tiêu là làng của Ngọc Trân.
Hai giờ sáng, chúng tôi mò vào làng trong bóng tối.
Mùa đông trong núi lạnh thấu xương, gió tạt vào mặt như dao cắt.
Tôi không cầm nổi bộ đàm, đành nhét vào trong ngực cho ấm.
Ngôi làng tĩnh lặng lạ thường.
Ngay cả chó cũng không sủa.
Ngọc Trân từ ba ngày trước đã trộn thuốc an thần vào bát cơm của con chó vàng to ở đầu làng, liều lượng tăng dần từng ngày, để con chó từ từ thích ứng, không sủa, cũng không gây nghi ngờ.
Chúng tôi mò tới trước cửa nhà Ngọc Trân.
Chị ấy đã đợi sẵn sau cánh cửa từ lâu.
Mặc một chiếc áo bông đã giặt đến bạc màu, trên lưng đeo một cái bao tải rắn, bên trong đựng toàn bộ gia sản của chị.
Tay dắt hai đứa bé gái, một đứa bảy tuổi, một đứa bốn tuổi.
Cả hai đều không phải con ruột của chị, là do người đàn ông kia từng buôn về, để lại.
Nhưng chúng gọi chị là mẹ.
Câu đầu tiên Ngọc Trân thấy tôi là: “Chúng nó cũng phải đi.”
“Tôi biết.”
“Cha chúng nó sẽ không buông tay.”
“Không cần hắn buông tay.”
Nước mắt Ngọc Trân trào ra ngay lập tức, nhưng chị cắn chặt môi, cố nuốt ngược tiếng khóc vào trong.
Chúng tôi lặng lẽ rút ra ngoài. Vừa ra tới đầu làng, một tiếng còi chói tai xé toạc màn đêm. Có người thức giấc. Tiếp đó, chó sủa vang – con chó vàng to lao người về phía chúng tôi sủa dữ dội, liều thuốc an thần không chuẩn, nó tỉnh sớm mất rồi. Ánh đèn pin loạn xạ, có người xách cuốc đuổi theo.
Tôi đẩy Ngọc Trân một cái: “Chạy!”
Chị cõng đứa bé gái nhỏ nhất, kéo đứa lớn, loạng choạng chạy lên sườn đồi. Tôi ở lại phía sau, vừa chạy vừa ngoảnh đầu nhìn. Người đuổi theo ngày càng gần. Tôi rút súng, bắn chỉ thiên một phát.
Tiếng súng nổ vang trong thung lũng, làm kinh động cả đàn chim trên núi, cũng làm chấn động những bước chân phía sau. “Cảnh sát!” Tôi hét lớn, “Chúng tôi là cảnh sát! Ai dám tiến lên!” Những người dân trong làng sững sờ tại chỗ, nhìn nhau biến sắc. Có kẻ không cam tâm, giơ cuốc định xông lên, bị người bên cạnh kéo chặt lại: “Đừng đi… là cảnh sát thật đấy, tay nó có súng…”
Chúng tôi tiếp tục chạy. Phía sau vọng lên tiếng khóc xé lòng của một người đàn bà. Là nhà bên cạnh. Chị ta nằm sấp bên cửa sổ, mắt mở to nhìn chúng tôi chạy xa. Miệng há ra, nhưng không phát ra nổi âm thanh nào. Khóc đến nghẹn giọng.
Đêm ấy, chúng tôi thành công đưa ra được mười hai người. Ba người khác gặp trục trặc. Thúy Hoa đổi ý vào phút chót. Không phải không muốn đi, mà là con trai chị nửa đêm lên cơn sốt cao, chị không đi được. Tôi nói chúng tôi có thể đợi. Chị lắc đầu: “Thôi vậy. Nó không khỏe, tôi đi rồi ai chăm nó?” Tôi nói: “Chị ở lại, cả đời nó cũng sẽ không khá lên nổi.” Chị nhìn tôi, ánh mắt giằng xé giữa đấu tranh và đau khổ, cuối cùng nói: “Cô cho tôi thêm chút thời gian.” Tôi nói: “Được.”
Tôi để lại hai người tiếp ứng, dẫn đại đội rút trước. Thúy Hoa ba tháng sau mới được đón ra. Con trai chị đã hạ sốt, người đàn ông đi làm ăn xa, chị cuối cùng cũng hạ quyết tâm. Tôi sai riêng một tổ đi đón chị. Chị bế con trai khóc suốt dọc đường, nhưng cuối cùng vẫn bước qua được bậc cửa ấy. Vì trước khi đi tôi đã ném lại cho chị một câu: “Sau này con trai chị lớn lên, nó muốn người ta nói ‘Mẹ nó là một con chim nhốt trong lồng’, hay muốn nói ‘Mẹ tôi là một người phụ nữ dám bước ra khỏi núi’?” Chị nói, chị chọn cái sau.
Mười hai người phụ nữ được cứu ra, mỗi người một hoàn cảnh khác nhau. Có người toàn thân đầy thương tích, phải nhập viện; có người tinh thần đã suy sụp, cần can thiệp tâm lý; có người đang mang thai, đến cả cha đứa bé là ai cũng không nói rõ; lại có người chứng minh thư đã mất từ lâu, đến tên mình là gì cũng chẳng nhớ nổi.
Tôi và các đồng nghiệp ở trạm cứu trợ lần lượt xử lý từng trường hợp. Khó nhất, là những người không biết mình ở đâu. Họ bị bán khi còn quá nhỏ, hoặc bị nhốt quá lâu, quê hương chỉ còn lại vài mảnh ký ức vụn vặt.
Tôi nhớ một người phụ nữ ngoài bốn mươi, chỉ nhớ trước cửa nhà có một con sông, trên sông có thuyền đi lại. Tôi đưa manh mối này vào hệ thống nội bộ, so sánh hàng nghìn dữ liệu, cuối cùng khóa chặt một ngôi làng ven thành phố Dụ. Tôi mang ảnh chị ấy tìm đến tận nơi. Người mẹ già trong nhà đã ngoài tám mươi, tóc bạc trắng, mắt cũng mù rồi. Tôi đặt tấm ảnh vào lòng bàn tay bà. Bà run run sờ soạng hồi lâu, bỗng nhiên nước mắt tuôn trào: “Là con Cảnh của tao… Là con Cảnh của tao…”
Cảnh năm chín tuổi bị bán, trở về năm chị đã bốn mươi mốt tuổi. Ba mươi hai năm. Trọn vẹn ba mươi hai năm.
Ngày về nhà, cả làng đều đứng ra tận đầu làng. Người mẹ già được người đỡ, run run giơ đôi tay khô đét như que củi ra phía trước. Cảnh quỳ sụp xuống đất, ôm lấy chân mẹ, gọi một tiếng “mẹ”, rồi không nói thêm được lời nào nữa. Tôi đứng bên cạnh khóc theo, khóc còn dữ hơn cả chị ấy.
Sáu tháng sau, tôi vào núi lần thứ hai, giải cứu Kim Lan.
Người đàn ông của cô ấy là một tay chơi máu mặt, cả làng đều sợ hắn. Tôi đã trinh sát nửa tháng trước, nắm rõ sinh hoạt và lộ trình của hắn. Ngày hành động hẹn nhau lúc bốn giờ sáng, Kim Lan buộc một sợi dây đỏ trên bệ cửa sổ – dây đỏ còn là an toàn, dây đỏ mất là có chuyện. Dây đỏ vẫn còn.
Chúng tôi trèo tường, cạy cửa, Kim Lan đã thu dọn hành lý chờ sẵn ở đó. Cô ấy không mang gì, chỉ mang theo một tấm ảnh. Ảnh của mẹ cô, đen trắng, góc đã cuộn lại, được gói trong một chiếc khăn tay, giấu kín trong lòng.
Chúng tôi vừa rút ra ngoài thì người đàn ông của cô tỉnh dậy. Hắn không biết từ đâu móc ra một con dao phay, trần trùng trục xông tới. Đồng nghiệp của tôi giơ tay cản, cánh tay bị rạch một đường, máu bắn ra. Tôi rút súng: “Bỏ dao xuống!” Hắn không chịu, còn muốn xông lên. Tôi bắn chỉ thiên một phát. Hắn sững lại, nhưng vẫn nắm chặt dao. Tôi lại bắn thêm một phát, đạn xuyên xuống đất bùn trước chân hắn, bùn đất bắn lên đầy mặt. Cuối cùng hắn cũng buông tay. Con dao phay rơi xuống đất kêu loảng xoảng.
Nhân lúc hắn ngẩn người, chúng tôi kéo Kim Lan chạy ra ngoài. Cô chạy được hai bước, bỗng dừng lại, quay đầu nhìn người đàn ông đó lần cuối. Cô không chửi hắn, không đánh hắn, cũng không nhìn hắn thêm lần nào nữa. Cô chỉ nói một câu: “Cả đời này, tôi không muốn gặp lại anh nữa.” Rồi cô quay lưng, chạy. Không ngoảnh đầu lại.
Gia đình Kim Lan nhanh chóng được liên lạc. Nhà cô ở một huyện nhỏ tỉnh bên, cách nơi cô bị bán có hơn hai trăm cây số. Nhưng hơn hai trăm cây số ấy, cô đi suốt năm năm vẫn chưa đi hết.
Người đến đón cô là chị gái. Hai chị em ôm nhau trước cửa trạm cứu trợ, khóc không ngừng. Chị gái Kim Lan nói, mẹ đã mất rồi, trước khi đi bà vẫn còn lẩm bẩm tên cô: “Mẹ trước khi nhắm mắt dặn chị, bằng mọi giá phải tìm được em về.” Kim Lan móc tấm ảnh đen trắng kia ra, áp vào ngực, khóc không nên lời. Chị gái nhìn tấm ảnh, cũng khóc: “Đây là ảnh chứng minh thư của mẹ. Sau khi mẹ mất, chị cắt ra giữ lại. Sao em cũng có?” Kim Lan nói: “Ngày em đi, em đã lấy trộm từ ngăn kéo của mẹ.” Hai chị em lại ôm nhau, không ai kéo ra nổi.
Tôi đứng bên cạnh, nước mắt không ngừng chảy. Khoảnh khắc ấy, tôi chợt hiểu ra câu nói của Đào Nhiên. Trái tim nếu không có nơi để dừng chân, thì đến đâu cũng chỉ là phiêu bạt. Nhưng ngược lại cũng vậy. Trái tim nếu có một nơi để neo đậu, thì dù phiêu bạt cả đời, vẫn có thể trở về nhà.
Hai lần hành động của tôi, giải cứu được mười chín người. Mười chín người phụ nữ, mười chín gia đình, mười chín số phận tan vỡ rồi lại được ghép lại. Tôi đưa từng người một rời đi. Có người về quê, có người được người thân đón đi, có người ở lại trạm cứu trợ chờ sắp xếp, cũng có người nhất quyết không chịu về nhà.
Người đó tên là Đào Đào. Cô bị bán khi mới mười bốn tuổi, người lừa cô chính là cô ruột. Cô bảo đưa cô đi làm thuê ở thành phố, một tháng kiếm được hai trăm đồng. Cô tin, đi theo suốt một ngày một đêm tàu hỏa, đến một nơi cô chưa từng nghe tên. Cô ruột lấy cô đổi lấy năm trăm đồng, rồi không bao giờ xuất hiện nữa. Đào Đào bị nhốt trong núi suốt mười hai năm. Khi được giải cứu, cô đã hai mươi sáu tuổi. Tôi hỏi cô có muốn về nhà không. Cô lắc đầu: “Mẹ em biết cô ruột đã bán em. Mẹ không ngăn cản.” Tôi không khuyên nữa. Có những gia đình, về còn khổ hơn không về.
Sau này Đào Đào đi Thâm Quyến, vào làm trong một nhà máy. Cô viết thư cho tôi, nói bây giờ một tháng kiếm được tám trăm đồng, đã dành dụm đủ tiền để đi học lớp đêm, muốn thi vào cao đẳng. Cuối bức thư viết một câu: “Chu cảnh sát, cảm ơn chị. Bây giờ em cuối cùng cũng biết, bên ngoài núi thực sự có biển.” Bức thư ấy, tôi đọc năm lần. Đọc một lần, khóc một lần.
Ba năm, tôi giải cứu được bốn mươi mốt người phụ nữ. Đến nay, là năm thứ bảy. Bảy năm qua, tôi đích thân giải cứu chín mươi sáu phụ nữ bị bán, giải thoát năm mươi hai đứa trẻ phải chịu cảnh khổ cùng mẹ. Đứa nhỏ nhất còn trong bọc, người lớn nhất sáu mươi tám tuổi. Bà ấy bị bán năm mười chín tuổi, sống trong núi suốt bốn mươi chín năm, gần nửa thế kỷ. Khi được giải cứu, bà đã không nói được tiếng phổ thông, miệng chỉ lẩm bẩm một câu thổ ngữ pha mấy thứ tiếng địa phương, đến tôi cũng nghe không rõ. Nhưng tôi nghe ra một địa danh — một huyện nhỏ ở phía bắc Vân Quý. Tôi tra ba ngày, tìm ra nơi đó. Gia đình bà đã không còn, cha mẹ mất, anh chị em không biết đã dời đi đâu, chỉ còn lại nửa bức tường cũ đổ nát và một sân đầy cỏ dại.
Bà cuối cùng được an trí vào viện dưỡng lão địa phương. Tôi đến thăm bà, bà ngồi phơi nắng ở góc sân, mặt mũi an nhiên. Thấy tôi, bà cười, miệng lại nói một câu gì đó. Tôi nhờ một cụ già địa phương dịch giúp. Cụ ấy nghe một lúc, nói với tôi: “Bà ấy nói, cuối cùng bà ấy cũng về nhà rồi.” Tôi ngồi xổm xuống, nắm lấy tay bà. Đôi bàn tay ấy thô ráp như vỏ cây già, các khớp xương sưng to biến dạng, kẽ móng tay lấm đầy bùn đen không rửa sạch nổi. Tôi áp đôi bàn tay đã ôm ấp bao năm khổ ải ấy lên mặt mình: “Đúng vậy, bà về nhà rồi.” Bà không hiểu lời tôi nói. Nhưng bà hiểu được biểu cảm của tôi. Bà cười, nước mắt lăn dài theo những nếp nhăn sâu hoắm, từng dòng từng dòng chảy xuống.
Ngày hôm ấy, trong sân viện dưỡng lão, hoa nở đầy sân. Tôi không gọi được tên loài hoa ấy. Nhưng tôi nhớ đến Đào Nhiên. Nhớ đến bài hát cô đã dạy tôi: “Đừng hỏi tôi từ đâu đến, quê hương tôi ở phương xa…” Quê hương cô ở phương xa. Cô không thể trở về. Vậy tôi sẽ thay cô trở về. Một chuyến, rồi một chuyến nữa, lại một chuyến nữa. Thay họ bước ra khỏi ngọn núi này, rồi quay lại. Cho đến khi trong núi này, không còn một người phụ nữ nào bị xích lại nữa. Cho đến khi mỗi ngọn núi, đều có tiếng vọng.