Sau khi vong phu trở về

Năm thứ ba sau khi Bùi Lăng “trận vong”, ta thay chàng cầu được sắc phong Trung Liệt.
Nhưng ta biết, chàng căn bản không c/h/ế/c, lúc này đang ở bên Tô Uyển, sống trong một tòa trạch viện ba lớp sân ở Giang Nam.
Ngày thánh chỉ được đưa vào Hầu phủ Tĩnh Bình, hai bên phố dài chen đầy bách tính khen ta hiền đức tiết liệt.
Họ khen ta thủ tiết ba năm, khen ta thay chồng quá cố giành được vinh dự sau khi c/h/ế/c.
Chỉ mình ta biết rõ, Bùi Lăng còn sống.
Ba năm trước, chàng nắm tay ta nói: “A Nghiễn, đợi ta ba năm.”
Ta đã đợi tròn hơn một ngàn ngày đêm.
Ba tháng trước, ta lấy được sổ sách bí mật ghi việc chàng hối lộ thư lại trong quân, ngụy tạo danh sách tử vong, liền chuyển tay nộp vào Đại Lý Tự.
Hôm qua, quan phủ đã xóa hộ tịch của chàng.
Hôm nay, thánh chỉ phong chàng là Trung Liệt, biểu dương ta thủ tiết.
Bùi Lăng nếu dám sống sờ sờ bước trở về, chính là khi quân.
Hai chữ “khi quân” vừa yên vị trong lòng ta, một tiểu tư mặc áo ngắn vải xanh từ trong đám đông chen ra, ôm hộp gỗ lao vào Hầu phủ.
“Lão phu nhân, thư nhà của thế tử đến rồi!”
Tiếng chúc mừng khắp sân như bị dao cắt đứt.
Phất trần của Cao nội thị truyền chỉ dừng lại giữa không trung.
Nụ cười trên mặt mẹ chồng cứng đờ, trở tay hất tung hộp gỗ.
“Hỗn trướng! Lăng nhi đã tử trận từ ba năm trước, lấy đâu ra thư nhà?”
Nắp hộp rơi vỡ, một chiếc khóa trường mệnh bằng vàng đỏ lăn đến trước bậc thềm.
Mặt khóa chạm khắc chữ “An”, mặt sau đóng ấn riêng của Bùi Lăng.
Một lá thư rơi bên chân ta, trên phong bì còn mang dấu thủy dịch Giang Nam.
Ta cúi người nhặt, mẹ chồng nhấc chân giẫm chặt lên lá thư.
“Chỉ là đồ cũ thôi, hôm nay mới lục ra từ trang viên.”
Cao nội thị nhìn về phía bà.
“Vật cũ sao lại đóng dấu thủy dịch ngày mùng tám tháng này?”
Mẹ chồng khẽ run chân.
Ta không nhắc bà, tiểu tư đưa thư là do ta cố ý để cho vào phủ.
Ba năm qua, Bùi Lăng mỗi tháng vào ngày mùng một đều gửi thư từ Giang Nam.
Có khi viết cho mẹ chồng, có khi viết cho quản gia, viết cho ta thì lác đác chẳng được mấy bức.
Ta dò rõ nơi ẩn thân của người đưa thư, cũng tính toán qua thời khắc thánh chỉ vào phủ.
Ba tháng trước, khi ta đưa lô chứng cứ đầu tiên vào Đại Lý Tự, Cao nội thị nói với ta:
“Ôn phu nhân, nếu muốn để hắn tự mình trở về, việc này phải đợi đến khi nước chảy thành sông.”
Cho nên hôm nay, cửa lớn Hầu phủ không chặn bất kỳ ai.
Cao nội thị đưa tay ra.
“Đưa đây.”
Mẹ chồng vẫn dẫm chặt lên lá thư.
“Công công, hôm nay là ngày lành Hầu phủ lĩnh ân. Một vật không rõ lai lịch, hà tất làm ô uế thánh ân?”
“Chính vì là thánh ân, nên càng không dung được nửa phần ô uế.”
Cấm quân tiến lên.
Mẹ chồng vẫn không nhấc chân.
Ta quỳ xuống bên bà, đích thân rút lá thư từ dưới đế giày bà ra.
Bà giơ tay t/á/t vào mặt ta.
“Ôn Nghiễn, ngươi điên rồi à?”
Tai ta ù ù, ta lau m/á/0 nơi khóe miệng, nói:
“Mẫu thân đã nhận định nó là giả, hà tất phải sợ?”
Bà nắm chặt cổ tay ta, hạ giọng:
“Lăng nhi vốn định ba ngày nữa sẽ hồi kinh. Ngươi bây giờ giao lá thư ra, là muốn để nó c/h/ế/c sao?”
“Ba ngày nữa?”
Cao nội thị nghe rõ mồn một.
Mặt mẹ chồng tái nhợt.
Ta đặt lá thư vào tay Cao nội thị.
Trên thư chỉ có mấy dòng:
“A Nghiễn, kỳ hạn ba năm đã mãn, ta đã sắp xếp vào kinh. Tô Uyển và A Dư cùng đi với ta. Ngươi dọn chính viện ra, rồi từ cửa hàng hồi môn rút ra hai gian cho nàng.”
“Nàng theo ta ba năm, chịu đủ ủy khuất. Ngươi chiếm danh phận Thế tử phu nhân, cũng nên biết đủ.”
Nơi ký tên, ấn riêng của Bùi Lăng đỏ tươi chói mắt.
Cao nội thị thu lại nụ cười.
“Bùi lão phu nhân, lá thư này giải thích thế nào?”
Mẹ chồng lao tới muốn cướp, bị cấm quân ngăn lại.
Ta quỳ lạy về phía thánh chỉ ngự ban.
“Biên quân ba năm trước đã trình báo, phu quân của thiếp đã tử trận. Hầu phủ cũng từng dâng thư báo tang, nhận tiền tuất.”
“Nay có kẻ mạo dụng bút tích và ấn riêng của vong phu, càn xưng rằng chàng vẫn còn trên cõi đời. Thiếp thân nghi có kẻ ý đồ bôi nhọ thanh danh trung liệt, khẩn cầu công công dâng bức thư này lên bệ hạ, điều tra triệt để việc này.”
Mẹ chồng nhìn chằm chằm vào ta, cuối cùng đã hiểu ra.
Nếu hắn c/h/ế/c, lá thư này chính là ngụy tạo.
Nếu hắn sống, hắn liền phạm vào trọng tội tự ý rời quân doanh, ngụy tạo quân báo, mạo nhận tiền tuất, lừa dối quân thượng.
Cao nội thị sai người giữ tiểu tư đưa thư lại.
“Người trung liệt đã khuất, không dung bọn tiểu nhân mạo phạm. Ta tất sẽ bẩm báo đúng sự thật.”
Cổng lớn Hầu phủ lại một lần nữa khép lại.
Ngoài cổng, bách tính vẫn còn khen Bùi Lăng trung dũng, khen ta thủ tiết ba năm.
Trong cổng, mẹ chồng nhặt thánh chỉ lên, ném về phía ta.
“Ngươi muốn hủy Lăng nhi, cũng muốn hủy cả Hầu phủ!”
Ta đỡ lấy thánh chỉ, phủi tro hương rơi trên đó.
“Mẫu thân nói quá nặng rồi. Bùi Lăng đã sớm tử trận, ta chỉ thay chàng giữ gìn trung danh.”
Mẹ chồng túm chặt cổ áo ta.
“Năm đó hắn giả c/h/ế/c là để cứu Tô Uyển!”
“Tô Uyển từng thay hắn đỡ tên, Tô gia bị trị tội, truy binh lại đã đến ngoài thành. Nếu hắn không dẫn Tô Uyển rời đi, nàng ắt c/h/ế/c không nghi ngờ.”
“Hắn đã hứa với ngươi, ba năm sau nhất định trở về. Ngươi đến ba ngày cũng không chịu đợi sao?”
Ta nhìn bà ấy.
Đợi ư? Cái đêm ba năm trước ấy, ta đợi đến tận khi trời sáng cũng không đợi được chàng.
Đêm đó, đứa con trong bụng ta mới năm tháng, bỗng nhiên ra m/á/0, đau đến mức không đứng thẳng nổi.
Đại phu của Hầu phủ vừa mới bốc thuốc cho ta, Bùi Lăng đã bế Tô Uyển đầy thương tích xông vào.
Chàng muốn chuẩn bị xe, còn muốn dẫn đại phu đi.
Ta túm lấy tay áo chàng, cầu xin chàng để đại phu lại.
Chàng bẻ từng ngón tay ta ra.
“Tô Uyển bị thương vào nội tạng, có thể m/ấ/t mạng bất cứ lúc nào. Ngươi chỉ là động thai, đừng tranh sủng vào lúc này.”
Chàng dẫn đại phu đi.
Đứa trẻ cứ thế sinh non.
Sau này Lưu ma ma nói với ta, khi nó chào đời vẫn còn thở, quấn trong tã lót khóc nửa canh giờ, rồi mới dần lạnh đi.
“Ta đã đợi chàng ba năm.”
Ta đặt một quyển sổ sách lên bàn, động tác rất nhẹ.
“Sau khi Bùi gia bị thu hồi bổng lộc, chính ta lấy của hồi môn nuôi sống cả phủ. Gia quyến cựu bộ của Bùi Lăng tới cửa đòi tiền tuất, cũng là ta từng nhà an trí.
Hầu phủ nợ ta hai mươi bảy vạn lượng, mỗi một khoản đều ghi ở đây.”
Mẹ chồng giật lấy, hai tay xé toạc.
“Đợi Lăng nhi trở về, tự nhiên sẽ trả ngươi!”
“Đứa trẻ không giữ được kia, là nó mệnh bạc. A Dư do Tô Uyển sinh, thân thể khỏe mạnh, ngươi ghi nó vào danh nghĩa mình, vẫn có thể làm mẹ.”
Ta cúi xuống nhặt nửa trang giấy vụn còn sót lại.
Trang giấy đó ghi lại một ngàn bảy trăm lượng ta thu được khi bán trang sức thành hôn.
Số tiền ấy sau đó được đưa đến Giang Nam, thay Bùi Lăng mua tòa trạch viện mà Tô Uyển ở.
Mẹ chồng tưởng rằng xé nát sổ sách, Bùi gia sẽ coi như chưa từng nợ ta.
Ngoài cửa bỗng truyền đến ba tiếng gõ cửa.
Không nhẹ không nặng.
Đó là ám hiệu Bùi Lăng thường dùng mỗi khi hồi phủ trước kia.
Sắc mặt mẹ chồng biến đổi, bà đẩy người hầu ra, tự mình chạy ra mở cửa.
Ngoài cửa đứng một nam nhân thân hình gầy gò.
Chàng mặc bố y bình thường, nơi xương mày có thêm một vết sẹo mờ.
Cách ba năm, ta vẫn liếc mắt một cái đã nhận ra chàng.
Chàng vòng qua mẹ chồng nhìn tới, đáy mắt treo ý cười.
“A Nghiễn, ta đã trở về.”
Sau lưng chàng dừng một cỗ xe ngựa.
Rèm xe vén lên, Tô Uyển trong lòng ôm một đứa trẻ hơn hai tuổi, lặng yên ngồi trong xe.
Bùi Lăng đưa tay về phía ta.
Ta lùi nửa bước, hành lễ tang với chàng.
“Thiếp thân bái kiến vong phu.”
2.
Bàn tay Bùi Lăng dừng giữa không trung.
Mẹ chồng vội vàng đóng cổng lớn, nhặt thánh chỉ dưới đất nhét vào tay chàng.
“Con về đúng lúc lắm. Con độc phụ này giấu chúng ta dâng thư xin chỉ, còn giao thư nhà của con cho trong cung!”
Bùi Lăng mở thánh chỉ ra.
Xem xong, chàng hỏi:
“Ai cho phép nàng thay ta xin truy phong?”
“Bệ hạ cho phép.”
“Truy hồi tấu chương lại.”
“Thánh chỉ đã tuyên đọc, đền Trung Liệt cũng đã nhận bài vị của chàng. Quan phủ hôm qua đã xóa hộ tịch của chàng, nay trên đời không còn người tên Bùi Lăng.”
Chàng siết chặt thánh chỉ.
“Nàng biết rõ ta còn sống.”
“Biên quân nói chàng đã c/h/ế/c, Bùi gia cũng đã lĩnh tiền tuất của chàng.”
“Trước khi rời đi ta đã nói với nàng!”
“Chàng chỉ bảo ta đợi, không bảo ta thay chàng phạm tội khi quân.”
Giọng chàng trầm xuống.
“Khi đó tình thế nguy cấp, ta chỉ có thể dẫn Tô Uyển rời đi trước. Về sau danh sách trận vong được đưa về kinh, nếu ta đột ngột xuất hiện, sẽ liên lụy Bùi gia.”
“Cho nên chàng ở Giang Nam mua nhà, sinh con?”
Chàng rời mắt đi.
Đứa trẻ trong xe ngựa bỗng khóc lên.
Tô Uyển bế đứa trẻ xuống xe, nhẹ nhàng kéo tay áo chàng.
“A Lăng, A Dư lại phát sốt rồi.”
Bùi Lăng lập tức đưa tay sờ trán đứa trẻ.
“Thuốc đâu?”
“Trên đường dùng hết rồi.”
Chàng xoay người bảo quản gia đi mời đại phu, sự sốt ruột trong giọng nói ấy, ta từng thấy qua.
Ba năm trước, khi chàng bế Tô Uyển lên, cũng là như vậy.
Tô Uyển bước đến trước mặt ta, trong mắt ngấn lệ.
“Ôn tỷ tỷ, năm đó nếu không rời đi, ta nhất định sẽ c/h/ế/c. Ba năm nay A Lăng ngày ngày nhớ thương tỷ, thường nói tỷ là người hiểu chuyện nhất, nhất định sẽ thay chàng chăm sóc tốt cho mẫu thân.”
“A Dư còn nhỏ, cái gì cũng không biết. Nếu tỷ hận ta, cứ nhắm vào ta là được, xin đừng liên lụy đứa trẻ.”
Mẹ chồng đón lấy đứa trẻ, lạnh lùng nhìn ta.
“A Dư là huyết mạch duy nhất của Lăng nhi, ai dám liên lụy nó?”
Bà nhấn mạnh hai chữ “duy nhất”.
Ta nhìn vào đôi giày của đứa trẻ.
Một đôi giày hổ đầu cũ, gót giày đã mài đỏ chân đứa bé.
Con hổ bên phải thiếu một sợi râu, đường kim mũi chỉ xiêu vẹo.
Đó là đôi giày ta từng khâu cho đứa con của mình.
Năm đó ta khâu được một nửa, mũi kim đâm rách ngón tay, Bùi Lăng không cho ta tiếp tục, lấy kéo cắt đứt chỉ.
Sau khi đứa trẻ c/h/ế/c non, bà vú đem đôi giày ấy đến Giang Nam, muốn để Bùi Lăng nhìn một lần, cầu chàng đặt cho đứa trẻ một cái tên.
Gói đồ ấy một tháng sau bị trả về.
Đôi giày lại ở lại Giang Nam.
Tô Uyển kèm theo một mảnh giấy:
“Đồ của người c/h/ế/c giữ lại xúi quẩy, ta thay tỷ tỷ đem đi cầu phúc rồi.”
Nay, nó đang nằm trên chân con trai nàng ta.
Ta ngồi xuống.
“Cởi ra.”
Tô Uyển vẻ mặt khó xử.
“A Dư đang bệnh, cởi giày dễ bị lạnh. Nếu tỷ tỷ để ý, ta về phòng rồi thay cho nó.”
“Cởi ngay.”
Mẹ chồng cười lạnh một tiếng, túm mũi giày, dùng sức kéo mạnh, mặt vải rách toạc từ giữa, con hổ thiếu một sợi râu bị xé thành hai nửa.
“Trả lại cho ngươi!”
Chiếc giày rách đập vào ngực ta, rồi rơi xuống đất.
Bùi Lăng cuối cùng mới cao giọng.
“Mẫu thân!”
Mẹ chồng giẫm một chân lên mặt giày.
“Một đứa trẻ không có phúc sống được, cũng xứng để cả nhà cùng đau lòng sao? Lăng nhi đã có A Dư rồi, Ôn Nghiễn nếu biết đại thể, thì nên nhường chính viện ra!”
Ta cúi người nhặt giày.
Mặt giày dính bùn, đầu hổ chỉ còn nửa khuôn mặt.
Bùi Lăng đưa tay muốn chạm, bị ta tránh đi.
“A Nghiễn, ta không biết Tô Uyển sẽ cho A Dư mang nó.”
“Chàng biết giày đã được đưa đến Giang Nam.”
Chàng không trả lời.
Một lúc sau, mới nói:
“Lúc đó Tô Uyển vừa phát hiện có thai, không chịu nổi kích thích. Ta sợ các ngươi vì chuyện đứa trẻ mà xảy ra xung đột, nên mới không hồi âm.”
“Cho nên chàng biết con của chúng ta đã c/h/ế/c.”
“Ta chỉ biết đứa trẻ không giữ được. Ta tưởng nó sinh ra đã không còn hơi thở.”
“Ai nói với chàng?”
Tô Uyển khẽ nói:
“Là ta.”
“Bà vú khi đưa thư khóc đến nỗi nói năng lộn xộn, ta sợ A Lăng đau lòng, nên chỉ nói với chàng rằng đứa trẻ không giữ được.”
Ta nhìn về phía Bùi Lăng.
“Chàng không mở thư của ta, cũng không hỏi bà vú một câu?”
“Lúc đó Tô Uyển có thai, quân truy đuổi vẫn chưa rút, ta không thể phân thân.”
“Mở một lá thư, cũng cần phân thân sao?”
Chàng không còn gì để nói.
Ta cất đôi giày rách vào trong ngực áo.
“Chỉ cần chàng muốn biết, luôn có cách biết.”
“Chàng không hỏi, là vì thê nhi ở lại kinh thành không quan trọng bằng nàng ta.”
Ta đi về phía cổng.
“Ta muốn đến Đại Lý Tự.”
Bùi Lăng đuổi theo, giữ chặt cổ tay ta.
“Không thể đi.”
“Lá thư hôm nay đã kinh động trong cung, nàng bây giờ rời phủ, nhất định sẽ bị thẩm vấn.”
“Ta sẽ trả lời đúng sự thật.”
“Nàng muốn đưa ta đi c/h/ế/c?”
“Bùi Thế tử đã c/h/ế/c từ ba năm trước. Người đứng ở đây là ai, ta không quen.”
Chàng siết chặt ngón tay.
“Ta đã sắp xếp xong lời khai. Cựu bộ trong quân sẽ làm chứng cho ta, cứ nói trước khi rời kinh ta bị trọng thương m/ấ/t trí nhớ, đến gần đây mới nhớ ra thân phận.”
“Sau đó thì sao?”
“Chúng ta rời khỏi kinh thành.”
Giọng chàng vẫn đương nhiên như cũ.
“Trạch viện ở Giang Nam đủ rộng. Nàng ở chính viện, Tô Uyển ở thiên viện, A Dư ghi vào danh nghĩa nàng, do nàng dạy dỗ. Đợi sóng gió qua đi, ta lại nghĩ cách khôi phục tước vị.”
“Phụ mẫu ta phải làm sao?”
“Họ không biết chuyện, triều đình sẽ không liên lụy.”
“Chàng bảo ta bỏ lại phụ mẫu, vứt bỏ thân phận, cùng một kẻ đào tẩu trốn cả đời ư?”
Chàng nhíu mày xuống.
“Chỉ là tạm lánh mấy năm. A Nghiễn, trước kia nàng đâu có so đo như vậy.”
Ôn Nghiễn trước kia đúng là sẽ không so đo.
Ôn Nghiễn trước kia đã cùng đứa trẻ không có tên ấy, c/h/ế/c trong đêm dài ba năm trước.
Ngoài cửa truyền đến tiếng bước chân dồn dập.
Cao nội thị đi rồi lại quay về.
“Bệ hạ có chỉ, khám xét Hầu phủ!”
Mẹ chồng đẩy bàn thờ trong từ đường ra.
Cửa ngầm lộ ra.
“Lăng nhi, dẫn Tô Uyển và A Dư đi!”
Bà chỉ về phía ta.
“Đưa con độc phụ này theo. Nàng ta biết quá nhiều, tuyệt đối không thể ở lại kinh thành!”
3.
Bùi Lăng bịt miệng ta, kéo ta vào mật đạo.
Cửa đá khép lại sau lưng, tiếng cấm quân đập cửa bị ngăn cách ở phía bên kia.
Ta rút trâm cài tóc đâm chàng.
Chàng bẻ quặt tay ta ra sau.
“Đợi ra khỏi thành, ta sẽ tạ tội với nàng.”
Tô Uyển bế đứa trẻ đi phía trước.
“Ôn tỷ tỷ, nếu tỷ kinh động quan binh, mọi người đều không sống nổi.”
Ta cắn mạnh vào tay Bùi Lăng.
Chàng đau quá buông tay.
Ta kề mũi trâm vào cổ họng mình.
“Để ta trở về.”
“A Nghiễn, ta đang cứu nàng.”
“Nếu cấm quân phát hiện ta m/ấ/t tích, người đầu tiên bị bắt sẽ là phụ mẫu ta.”
“Ta sẽ phái người đưa bạc an trí họ.”
“Chàng tưởng tiền có thể mua hai mạng của họ sao?”
Mũi trâm đâm rách da, m/á/0 theo bên cổ chảy vào cổ áo.
Bùi Lăng đứng yên tại chỗ.
“Buông xuống.”
“Chàng dám chạm vào ta, ta sẽ c/h/ế/c ngay tại đây.”
Ánh mắt chàng rơi trên cây trâm, cuối cùng không tiến lên nữa.
“Được, ta đưa nàng trở về.”
Tô Uyển chắn trước mặt chàng.
“Nàng ta trở về nhất định sẽ tố cáo chúng ta!”
“Nàng đưa A Dư đi trước.”
“A Lăng…”
“Đi!”
Tô Uyển cắn môi, bế đứa trẻ xoay người rời đi.
Mật đạo có hai ngã rẽ.
Một đường thông đến trang viên cũ ngoài thành, một đường thông đến nhà hoang bên kia phố.
Bùi Lăng để Tô Uyển đi con đường thông ra ngoài thành, còn mình dẫn ta quay lại phủ.
Chàng đưa ta đến trước cửa đá, nhưng không mở cửa.
“Ta có thể thả nàng trở về, cũng có thể phái người đến Ôn gia.”
“Nếu nàng đem chuyện hôm nay nói cho cấm quân, chân của nhạc phụ không chịu nổi lần vào ngục thứ hai.”
Tay ta đang nắm cây trâm khựng lại một thoáng.
Ba năm trước, ngày thứ bảy sau khi ta m/ấ/t đứa con, phụ thân nghe nói vì một lô vải quan mà bị giam vào đại lao.
Mẹ chồng ngồi bên giường ta, lấy đi chìa khóa kho của hồi môn.
“Chỉ cần ngươi yên tâm ở lại Bùi gia, lấy bạc thay Lăng nhi lo liệu hậu sự, phụ thân ngươi sẽ bình an ra ngoài.”
Khi đó ta bệnh đến mức không xuống nổi giường, chỉ có thể giao chìa khóa ra.
Phụ thân lại bị đánh gãy một chân trong ngục.
Nửa năm sau ta mới điều tra rõ, chuyện vải quan hoàn toàn là bịa đặt.
Là mẹ chồng và huynh trưởng của bà ta bắt giữ phụ thân ta, chỉ để ép ta lấy của hồi môn bù vào Hầu phủ.
Bùi Lăng biết phụ thân ta từng vào ngục.
Khi chàng gửi thư còn khuyên ta, đừng vì nhà mẹ đẻ mà làm hao tổn Bùi gia.
Nay, chàng lại lấy phụ mẫu ta ra ép ta.
“Nàng nghĩ cho kỹ.”
Chàng thay ta lau vết m/á/0 nơi cổ.
“Chỉ cần nàng chịu phối hợp, ta sẽ bù đắp cho nàng. Tô Uyển đã có A Dư, sẽ không tranh vị trí chính thê với nàng nữa.”
“Chuyện đứa trẻ là ta nợ nàng. Sau này chúng ta sẽ còn có.”
Ba năm trước, chàng cũng nói như vậy.
Phảng phất như đứa trẻ đã c/h/ế/c chỉ là một món đồ hỏng, có thể thay mới.
“Bùi Lăng.”
“Ừm?”
“Khi chàng từ bỏ ta, có từng nghĩ rằng, ta cũng sẽ từ bỏ chàng không?”
Động tác trên tay chàng dừng lại.
Ngoài cửa ngầm truyền đến tiếng khóc kêu của mẹ chồng.
Cấm quân đã lục soát vào từ đường.
Ta dùng sức đẩy cửa đá ra.
Hơn mười thanh đao đồng thời rút khỏi vỏ, ánh lạnh nhắm thẳng vào cửa vào.
Bùi Lăng đẩy ta ra ngoài, tự mình lui về mật đạo.
Cao nội thị nhìn thấy v/ế/t t/h/ư/ơ/n/g nơi cổ ta, lập tức sai cấm quân truy bắt.
Bùi Lăng quen thuộc cơ quan mật đạo, rất nhanh đã hạ cửa đá chặn long, phong kín đường đi.
Chàng lại trốn thoát.
Mẹ chồng quỳ dưới đất, chỉ vào ta khóc kêu:
“Ôn thị tư thông với đàn ông bên ngoài! Kẻ đó trông giống Lăng nhi, nên nàng ta muốn mượn danh nghĩa người c/h/ế/c để cùng hắn bỏ trốn!”
Cao nội thị bật cười thành tiếng.
“Lão phu nhân vừa nãy còn đang gọi Lăng nhi, cả sân cấm quân đều nghe thấy.”
“Ta nhận nhầm rồi! Ta nhớ con thành bệnh, thấy người giống nó, nhất thời hồ đồ.”
“Vậy đứa trẻ là ai?”
Mẹ chồng chỉ vào ta.
“Là con do Ôn thị và gian phu sinh ra!”
Bà lao tới bắt ta.
Ta nghiêng người tránh đi.
Trước kia ta sợ bà làm ầm chuyện lên, sợ phụ mẫu bị liên lụy, cũng sợ thanh danh trăm năm của Bùi gia hủy trong tay ta.
Giờ khắc này, ta bỗng thấy buồn cười.
Thanh danh của Bùi gia, đã sớm bị người Bùi gia tự mình ăn sạch rồi.
“Công công, ta có chứng cứ.”
Ta nhìn về phía Trần bá.
“Mang đồ ra.”
Trần bá dẫn người khiêng vào ba chiếc hòm gỗ.
Mẹ chồng nhìn thấy khóa trên hòm, sắc mặt biến đổi.
“Ngươi từ khi nào…”
“Từ ngày phụ thân ta ra ngục.”
Trong chiếc hòm thứ nhất, là thư từ Bùi Lăng gửi từ Giang Nam.
Gửi cho mẹ chồng bốn mươi bảy bức, gửi cho quản gia ba mươi hai bức.
Gửi cho ta, chỉ có năm bức.
Bức thứ nhất bảo ta đợi.
Bức thứ hai bảo ta lấy ra năm vạn lượng, an trí thuộc hạ cũ của chàng.
Bức thứ ba bảo ta cứu nhũ mẫu của Tô Uyển.
Bức thứ tư nói với ta rằng Tô Uyển có thai, bảo ta chuẩn bị văn thư cho đứa trẻ vào gia phả.
Bức cuối cùng, bảo ta dọn ra khỏi chính viện.
Trong chiếc hòm thứ hai, là khế nhà, khế cửa hàng và sổ sách.
Trạch viện ở Giang Nam đứng tên Tô Uyển, tiệm trang sức, trà trang và ruộng tốt cũng đều do Bùi Lăng mua sắm cho nàng ta.
Bạc đều chi ra từ của hồi môn của ta.
Trong chiếc hòm thứ ba, là hộ tịch giả của Bùi Dư, lời khai của nhân chứng ở Giang Nam, cùng hồ sơ gốc vụ án vải quan của phụ thân.
Trong đó, một nhân chứng bị đánh gãy chân, vợ con của một người bị giam ở Giang Nam, còn một người m/ấ/t tích đến nay.
Dưới đáy hòm có ép ba lá thư chưa từng được mở.
Ta giao thư cho Cao nội thị.
“Đây là thư ta viết cho Bùi Lăng. Một lá đêm đứa trẻ c/h/ế/c non, một lá ngày đầu thất, một lá ngày đầy tháng. Mỗi lá đều bị Bùi trạch ở Giang Nam trả về.”
Mặt sau phong bì có hai dòng chữ của Tô Uyển:
“Chủ nhân có lệnh, thư từ Ôn thị ở kinh không nhận.”
“Nếu còn gửi đến nữa, giao cho phu nhân xử trí.”
Cao nội thị xem xong, hỏi ta:
“Ngươi đã nhận được thư của hắn từ ba năm trước, vì sao đến tận ba tháng trước mới báo lên?”
“Ban đầu ta chỉ biết hắn có thể đã m/ấ/t tích, không biết danh sách trận vong có phải do hắn ngụy tạo hay không.”
“Chỉ dựa vào mấy lá thư nhà, không thể buộc tội khi quân.”
Ta lấy ra quyển sổ của trạch viện Giang Nam.
“Mãi đến ba tháng trước, tiêu cục thay ta lấy được quyển sổ này. Trên đó có bút tích tự tay của Bùi Lăng, cũng có khoản chi hắn dùng để mua chuộc thư lại trong quân.”
“Chứng cứ đầy đủ, ta mới dám báo lên.”
Cao nội thị nhìn ta một cái, không hỏi thêm nữa.
Mẹ chồng lao tới muốn cướp quyển sổ, bị cấm quân đè ngã.
“Đồ của Bùi gia đều nên thuộc về Lăng nhi! Ngươi gả vào Hầu phủ, của hồi môn cũng là của Bùi gia. Ngươi lấy tiền của Bùi gia để điều tra phu quân mình, còn có nữ đức không?”
Ta ngồi xổm trước mặt bà.
“Số bạc điều tra hắn, là ta bán chiếc vòng ngọc mẹ để lại mà có.”
“Hầu phủ đã sớm bị các người vét sạch rồi.”
Cấm quân phong tỏa kho.
Cửa kho mở ra, mấy chục chiếc hòm gỗ chạm hoa xếp ngay ngắn, bên trong lại toàn là đá.
Hầu phủ chỉ còn lại một cái vỏ rỗng.
Đêm ấy, triều đình phong tỏa các cổng kinh thành, tranh chân dung Bùi Lăng dán khắp phố dài.
Vì ta chủ động giao nộp chứng cứ, được cho phép về Ôn gia tạm ở.
Khi rời Hầu phủ, ta chỉ mang theo hai chiếc hòm.
Một chiếc đựng sổ sách.
Chiếc còn lại đựng đôi giày đầu hổ đã bị xé hỏng.
4.
Đêm đầu tiên trở về Ôn gia, một mũi tên ngắn bắn vào cửa sổ ta.
Trên mũi tên buộc thư của Bùi Lăng.
“Nhà cũ phía tây thành, giờ Tý gặp.”
Mặt sau còn một hàng chữ nhỏ:
“Nếu nàng không đến, ta sẽ đi gặp nhạc phụ.”
Ta đặt lá thư lên lửa nến đốt đi.
Giờ Tý sắp qua, trong phòng phụ thân truyền đến tiếng sứ vỡ.
Khi ta đẩy cửa bước vào, Bùi Lăng đang đứng trước giường phụ thân.
Thanh kiếm của chàng đặt trên bàn.
Sắc mặt phụ thân trắng bệch, trong lòng ôm chặt một quyển sổ sách ố vàng.
Bùi Lăng nhìn v/ế/t t/h/ư/ơ/n/g nơi cổ ta.
“Đau không?”
“Khi chàng lấy phụ thân ta ra uy hiếp, chàng không có tư cách hỏi.”
Chàng chỉ vào quyển sổ trong lòng phụ thân.
“Đây là thứ tìm thấy trong phòng mẫu thân. Nhạc phụ phái người đến Hầu phủ lấy đồ cũ, vô tình lật ra.”
Phụ thân giao quyển sổ cho ta.
Trên đó ghi lại xe ngựa ra vào và tiền bạc qua lại trong đêm đứa trẻ c/h/ế/c non ba năm trước.
Giờ Hợi ba khắc, bà vú bế đứa trẻ đi tìm lang trung.
Lang trung đã bị Bùi Lăng dẫn đi.
Quản gia cầm ngọc bội của ta ra ngoài mời thái y, bị mẹ chồng ngăn lại, đánh hai mươi gậy.
Sổ sách ghi mười lượng bạc bịt miệng.
Quá nửa giờ Tý, mẹ chồng sai người đặt đứa trẻ vào sọt mây, đưa ra khỏi thành bằng cửa hông.
Sáng sớm hôm sau, một cỗ xe ngựa tiến vào Hầu phủ.
Trên xe là Bùi Lăng.
Sau khi đưa Tô Uyển ra khỏi thành, chàng quay lại, lấy đi vàng bạc và lộ dẫn, ở trong phủ nửa canh giờ.
Bà vú bế đứa trẻ quỳ ngoài cửa phòng ta, cầu xin chàng vào nhìn một cái.
Bùi Lăng không đi vào.
Ta ngẩng đầu.
“Chuyện này, chàng cũng không biết?”
Chàng đỡ lấy góc bàn.
“Khi ta trở về, mẫu thân nói đứa trẻ vừa sinh ra đã không còn hơi thở. Bà còn nói nàng hận Tô Uyển, không muốn gặp ta.”
“Bà vú ở ngay ngoài cửa.”
“Ta không nhìn thấy bà ấy.”
Phụ thân nhắm mắt.
“Bà ấy bị người của mẫu thân ngươi đè dưới hành lang, miệng nhét vải. Ngươi đi ngang qua bà ấy, chắc hẳn phải nghe thấy tiếng đứa trẻ khóc trong sọt mây.”
Bùi Lăng nhìn chằm chằm quyển sổ.
“Khi đó đứa trẻ còn sống?”
Lời khai của bà vú kẹp trong sổ sách:
“Khi Thế tử đi ngang qua, tiểu công tử khóc ba tiếng. Nô tỳ miệng bị nhét vải không thể phát ra tiếng, chỉ có thể liều mạng lấy đầu đập vào cột, muốn khiến Thế tử quay đầu lại. Thế tử dừng một chút, thị nữ của Tô cô nương thúc giục chàng, nói cô nương ở ngoài thành sốt cao không lui.”
“Thế tử không quay đầu lại.”
Trong phòng lặng đi.
Bùi Lăng va rơi chén trà trên bàn.
Mảnh sứ vỡ vương khắp đất.
Ta lấy ra ba lá thư bị trả về.
“Ta đã nói với chàng rồi.”
Lá thư thứ nhất, cuối cùng cũng được mở ra.
“Phu quân thân khải. Con của chúng ta khi sinh ra vẫn còn hơi thở, là do ta không bảo vệ được nó. Vú nuôi nói mày mắt nó rất giống chàng, ta chưa kịp nhìn rõ. Nó không có tên, nếu chàng bằng lòng, đặt cho nó một cái tên đi.”
Bùi Lăng xem mấy dòng, liền dừng lại.
“Ta không sai người trả thư.”
“Nhưng chàng để Tô Uyển làm nữ chủ nhân của Bùi trạch ở Giang Nam.”
“Ta không biết nàng ta chặn thư.”
“Nhưng chàng biết đứa trẻ đã c/h/ế/c.”
“Ta tưởng…”
“Chàng đã nhận được đôi giày hổ đầu.”
Ta đặt đôi giày rách ấy lên bàn.
“Chàng cầm nó ngồi trọn một đêm. Tô Uyển đích thân nói với ta.”
“Giày đã đến tay chàng, chàng vẫn không mở thư, không hồi kinh, cũng không phái người hỏi một câu.”
“Chàng đang sợ điều gì?”
Bùi Lăng cúi đầu.
“Ta sợ nàng nói cho ta biết, cái c/h/ế/c của đứa trẻ có liên quan đến ta.”
“Lúc đó Tô Uyển vừa mang thai. Nàng ấy đêm đêm giật mình tỉnh dậy, sợ quân truy đuổi tìm thấy chúng ta. Ta tự nói với mình, ở lại Giang Nam là để bảo vệ nàng ấy, đợi hết hạn ba năm, ta sẽ hồi kinh bù đắp cho nàng.”
“Nếu ta mở thư, sẽ không thể giả vờ thêm được nữa.”
Chàng đứng yên tại chỗ, như thể cuối cùng đã thừa nhận mình đã làm những gì.
“A Nghiễn, ta muốn đi tìm đứa trẻ.”
“Không tìm được nữa.”
“Bãi tha ma có lớn hơn nữa, ta cũng sẽ tìm được.”
“Tìm được rồi thì sao?”
Ta cất đôi giày hổ đầu đi.
“Bù thêm một tấm bia mộ, chàng liền coi như đã từng làm cha rồi à?”
Chàng ngồi xuống bên bàn, rất lâu không nói gì.
“Ta còn có thể làm gì?”
“Rời khỏi đây.”
Chàng nhìn ta.
“Nàng hận ta, vì sao năm đó không trực tiếp báo quan?”
“Ta cần chứng cứ, cũng cần bảo vệ phụ mẫu.”
“Nàng có thể nói cho ta chuyện vụ án vải quan.”
“Nói cho chàng thì có ích gì?”
“Ta sẽ cứu nhạc phụ.”
“Khi chàng gửi cho ta lá thư thứ hai, phụ thân đang ở trong ngục.”
Ta rút lá thư ấy ra từ hộp gỗ.
“Chàng viết, Bùi gia gian nan, bảo ta đừng lấy tiền nhà chồng để bù đắp nhà mẹ đẻ.”
Ngày phụ thân bị đánh gãy chân, Bùi Lăng đang ở Giang Nam tổ chức yến tiệc sinh nhật cho Tô Uyển.
Yến tiệc tiêu tốn bốn nghìn lượng, trên sổ ghi, bạc lấy từ cửa hàng tơ lụa hồi môn của Ôn thị.
Chàng nhìn lá thư ấy, hồi lâu không động đậy.
“Vì sao nàng còn giữ lại?”
“Mỗi một lá đều là chứng cứ.”
Ngoài viện bỗng sáng rực đuốc lửa.
Quan binh đã bao vây Ôn gia.
Bùi Lăng lúc này mới nhìn thấy miếng ngọc bội treo dưới hành lang.
Đó là tín vật Cao nội thị giao cho ta, treo vật này lên, nghĩa là Bùi Lăng đã lẻn vào Ôn gia.
Từ lúc chàng bước vào phòng phụ thân, Trần bá đã treo ngọc bội ra ngoài.
“Ngươi đang kéo dài thời gian?”
“Ta chỉ muốn bảo toàn phụ mẫu mà thôi.”
Người của Đại Lý Tự đạp tung cổng viện.
“Phụng chỉ truy bắt yếu phạm Bùi Lăng, kẻ che chứa đồng tội xử!”
Bùi Lăng chụp lấy thanh kiếm trên bàn.
Ta chắn trước người phụ thân.
Tay chàng siết chặt chuôi kiếm.
Cửa sổ ngay sau lưng, chỉ cần nhảy ra, chàng vẫn còn cơ hội trốn.
Nhưng ánh mắt chàng dừng lại trên đôi giày hổ đầu trên bàn.
Kiếm rơi khỏi tay chàng.
Xích sắt khóa chặt cổ tay chàng.
Chàng bị áp giải ra giữa sân, bỗng quỳ sụp xuống.
Trán đập mạnh xuống đất.
“A Nghiễn, xin lỗi nàng.”
Ta đứng trong cửa, không đáp lại.
Chàng ngẩng đầu.
“Nếu ta trả hết những gì ta nợ nàng, nàng có thể đợi ta thêm một lần nữa không?”
Ta khép cửa phòng lại.
Ba năm trước, ta đã đợi chàng.
Nay, đến lượt chàng đợi một cánh cửa sẽ không bao giờ mở nữa.
5.
Vụ án nhanh chóng được điều tra rõ.
Ba năm trước, Bùi Lăng tự ý rời quân doanh, dẫn Tô Uyển trốn đến Giang Nam.
Để tránh bị truy tra, chàng dùng ba ngàn lượng mua chuộc thư lại trong quân, ghi một binh sĩ dung mạo bị hủy hoại thành chính mình.
Binh sĩ ấy tên Tôn Đại Dũng.
Trên chiến trường, hắn từng cứu bảy đồng đội, quân công đáng lẽ phải được khen thưởng.
Công lao của hắn, lại bị ghi dưới tên Bùi Lăng.
Khi Bùi Lăng sống trong trạch viện ấm áp ở Giang Nam, Tôn lão phu nhân canh giữ căn nhà đất dột mưa, đợi suốt ba năm.
Triều đình tìm thấy bà, đưa đến khoản tiền tuất muộn màng.
Người già không khóc, chỉ hỏi:
“Thi cốt của con trai ta ở đâu?”
Không ai có thể trả lời.
Ngày ngự thẩm, Bùi Lăng quỳ trong điện, nhận hết mọi tội trạng.
Bệ hạ hỏi chàng:
“Vì sao tự ý rời quân doanh?”
“Thần muốn cứu một người.”
“Vì cứu một người, là có thể để một người khác c/h/ế/c thay ngươi sao?”
Bùi Lăng phủ phục dưới đất.
“Không thể.”
Chàng khai ra tất cả cựu bộ liên quan, cũng thừa nhận mẹ chồng biết rõ chân tướng giả c/h/ế/c.
Cuối cùng, chàng dâng lên một phong thư hòa ly.
“Ôn thị bị thần lừa dối, không biết nội tình giả c/h/ế/c. Nàng thay thần hầu hạ mẫu thân, trả nợ cũ, an trí cô nhi của tướng sĩ trận vong, chưa từng có lỗi với Bùi gia.”
“Mọi tội trách do thần gánh chịu.”
“Thần cầu xin bệ hạ thu hồi sự biểu dương dành cho nàng, cho phép nàng khôi phục thân phận tự do.”
Thánh thượng chuẩn y.
Khi Bùi Lăng bị áp giải ra khỏi cửa cung, Tôn lão phu nhân đang đợi chàng.
Bà giơ tay t/á/t chàng một cái.
Sức lực người già rất nhẹ.
Bùi Lăng lại quỳ xuống.
“Trước khi con trai ta đi, nó nói với ta, đợi đánh xong trận, nó sẽ về sửa mái nhà.”
Tôn lão phu nhân lấy ra tấm thẻ tên đã rách nát.
“Ngươi dùng thi thể của nó để trở về nhà, lại dùng công lao của nó để nuôi người đàn bà khác.”
“Bùi công tử, mạng ngươi quý giá như vậy, mạng con trai ta thì đáng bị đem ra lót đường cho ngươi sao?”
Bùi Lăng cúi đầu.
“Xin lỗi.”
“Ta không cần lời xin lỗi của ngươi.”
Người già thu lại thẻ tên.
“Ta chỉ cần con trai.”
Lần này, không ai có thể cho bà.
Đền Trung Liệt gỡ bài vị của Bùi Lăng xuống, thay bằng tên Tôn Đại Dũng.
Sự biểu dương của ta cũng bị thu hồi.
Khi Cao nội thị mang văn thư hòa ly đến, ông ấy cũng mang theo lá thư đầu tiên Bùi Lăng viết từ trong ngục.
Trong thư không nhận lỗi, chỉ giải thích tình cảnh năm đó, giải thích ơn cứu mạng của Tô Uyển đối với chàng, cũng giải thích rằng chàng vốn định ba năm sau trở về bù đắp cho ta.
Dòng cuối cùng viết:
“A Nghiễn, ta sai ở chỗ giấu nàng, nhưng chưa từng nghĩ sẽ làm tổn thương nàng.”
Ta gấp lá thư lại, trả cho ngục tốt.
Ba ngày sau, lá thư thứ hai được đưa đến.
Lần này không có lời giải thích.
Trong thư kẹp khế nhà của trạch viện Giang Nam, còn có văn thư chuyển nhượng đã được Bùi Lăng ký sẵn.
“Trạch viện và cửa hàng thuộc về nàng. Sau khi phòng sổ sách tính toán, có thể bù được bao nhiêu thì bù bấy nhiêu.”
Sau khi bán trạch viện và cửa hàng, số bạc bù lại chỉ bằng một nửa số gốc.
Ta không đến ngục để tạ ơn chàng.
Số tiền đó vốn dĩ là tiền của ta.
Tô Uyển bị phán lưu đày.
Trước khi lên đường, nàng ta bế Bùi Dư đến gặp ta.
Đứa trẻ gầy đi một vòng, trong tay vẫn nắm chiếc khóa trường mệnh bằng vàng đỏ ấy.
“A Lăng muốn gặp tỷ.”
“Ta không gặp.”
“Chàng ở trong ngục không chịu ăn uống. Đại phu nói v/ế/t t/h/ư/ơ/n/g cũ tái phát, cứ tiếp tục như vậy, chàng không trụ nổi đến ngày tuyên án.”
“Đó là lựa chọn của chàng.”
Tô Uyển rủ mắt xuống.
“Ba lá thư đó, đúng là ta đã chặn.”
“Ta sợ chàng biết đứa trẻ còn sống, sẽ lập tức hồi kinh. Khi đó ta vừa có A Dư, đến danh phận thiếp thất cũng không có.”
Nàng ta ôm chặt đứa trẻ.
“Về sau ta mới hiểu, cho dù ta giao thư cho chàng, chàng cũng chưa chắc sẽ đi.”
Ta không nói gì.
Nàng ta bỗng hỏi:
“A Dư có thể giao cho tỷ không?”
“Không thể.”
“Nó dù sao cũng là huyết mạch duy nhất của Bùi gia.”
“Nó là con của ngươi, không phải trách nhiệm của ta.”
“Ngươi không có con của mình…”
“Ta từng có.”
Sắc mặt nàng ta trắng bệch.
“Ngươi đã chặn thư của ta, tiêu tiền hồi môn của ta, còn giẫm lên giày của con ta. Nay còn muốn ta thay ngươi nuôi con trai.”
“Tô Uyển, ta không có tấm lòng rộng lượng như vậy.”
Nàng ta ôm đứa trẻ rời đi.
Bùi Dư còn nhỏ, không cần theo mẹ đi lưu đày, một người họ hàng xa của Tô gia bằng lòng nhận nuôi nó, ta sai người đưa đến một trăm lượng bạc.
Số tiền đó chỉ cho đứa trẻ.
Bùi Lăng biết được, viết lá thư thứ ba.
“Nàng vẫn mềm lòng.”
Ta bảo ngục tốt trả thư lại, chỉ kèm một câu:
“Ta đối xử tử tế với một đứa trẻ vô tội, không liên quan gì đến chàng.”
Từ đó về sau, Bùi Lăng không còn nhờ người gửi thư nữa.
6.
Bùi Lăng vốn bị phán tội trảm.
Một tháng trước ngày hành hình, Bắc cảnh truyền đến cấp báo.
Quân địch thừa lúc triều đình chỉnh đốn biên quân, liên tiếp phá hai thành, đường lương cũng bị cắt đứt.
Bùi Lăng từng trấn thủ Bắc cảnh nhiều năm, quen thuộc bố phòng của quân địch.
Chàng ở trong ngục dâng thư xin ra trận, nguyện lấy công chuộc tội mà xuất chinh.
Triều đình tranh luận mấy ngày, cuối cùng bệ hạ chuẩn y.
Trước khi xuất chinh, chàng đến Ôn gia gặp ta.
Chàng mang gông cùm quỳ ngoài cửa, từ sáng sớm đợi đến khi lên đèn.
Trần bá vào hỏi ba lần.
“Cô nương, hắn vẫn còn ở đó.”
“Bảo hắn đi.”
“Hắn nói chỉ muốn trả lại một món đồ.”
Trần bá đặt một chiếc hộp gỗ lên bàn.
Bên trong là đôi giày hổ đầu đã được vá lại.
Mặt giày được giặt rất sạch, những mũi chỉ đứt được khâu lại, chỉ có điều người vá tay nghề vụng về, hai mắt con hổ một cao một thấp.
Dưới giày ép một tờ giấy mỏng.
Trên đó viết một cái tên.
Bùi Trường Canh.
Ta nhìn một lát, đặt tờ giấy lên đèn đốt.
Lửa liếm qua chữ “Bùi”.
Ta gõ tro giấy vào chậu đồng, cất đôi giày hổ đầu trở lại rương áo của đứa trẻ.
“Nó tên là Ôn Trường Canh.”
“Không liên quan gì đến Bùi gia.”
Trần bá mang chiếc hộp gỗ rỗng ra ngoài.
“Cô nương đã nhận giày rồi.”
Bùi Lăng ngẩng đầu.
“Nàng ấy nhìn thấy tên chưa?”
“Nhìn thấy rồi.”
“Nàng ấy nói gì?”
“Cô nương nói, đứa trẻ họ Ôn.”
Chàng quỳ nguyên tại chỗ, rất lâu không nhúc nhích.
Quan sai thúc giục lên đường, chàng mới vịn tường đứng dậy.
Đi được mấy bước, chàng quay đầu nhìn cánh cổng viện đóng chặt.
“Nói với nàng, ta sẽ sống trở về.”
Trần bá không đáp lời.
Sau khi Bùi Lăng rời kinh, ta dùng số hồi môn lấy lại được để mua ba cửa hàng tơ lụa.
Chân phụ thân đi lại bất tiện, nhưng có thể ngồi sau quầy dạy ta xem hàng.
Mẫu thân thay ta trông coi sổ sách.
Trong nhà dần dần hồi sinh sức sống.
Ta lại cải tạo một trang viên bỏ không ngoài thành thành thiện đường, thu nhận những phụ nữ và trẻ em không có nơi nương tựa.
Trong số họ, có người biết dệt vải, có người giỏi thêu thùa.
Cửa hàng thiếu người, thiện đường thiếu bạc, vừa hay đôi bên đều có chỗ dùng.
Một năm sau, Bắc cảnh truyền về tin thắng trận.
Bùi Lăng hỗ trợ quân thủ thành cắt đứt đường lương của địch, lại từ bản đồ bố phòng cũ tìm ra mật đạo trong núi, hai tòa thành đã m/ấ/t được đoạt lại.
Cao nội thị đến cửa hàng.
“Bùi Lăng lập quân công, bệ hạ hỏi chàng muốn gì.”
“Chàng không cầu xin ân xá?”
“Không.”
“Chàng thay Tôn lão phu nhân cầu miễn thuế suốt đời, cũng thay ngươi cầu một đạo nữ hộ văn thư.”
Theo lệ cũ, nữ tử dù đã hòa ly, sản nghiệp đứng tên vẫn phải chịu sự quản thúc của phụ huynh.
Có đạo văn thư này, hộ tịch của ta mới được độc lập, cửa hàng và ruộng trang mới thật sự thuộc về ta.
Ta tiếp nhận thánh chỉ.
“Dân nữ tạ ơn bệ hạ.”
Cao nội thị cười một tiếng.
“Chỉ tạ bệ hạ thôi sao?”
“Bùi Lăng nợ ta, còn xa mới hết.”
Sau khi Bùi Lăng khải hoàn hồi kinh, án trảm được đổi thành lưu đày.
Bệ hạ không khôi phục tước vị của chàng, cũng không cho chàng nhập sĩ nữa.
Trước khi rời kinh, chàng lại đến cửa hàng tơ lụa.
Trong tiệm khách rất đông, chàng đứng ngoài cửa đợi nửa canh giờ.
Khi ta ngẩng đầu lên, suýt chút nữa không nhận ra chàng.
Chàng gầy đi rất nhiều, chân phải từng bị thương, đi đường hơi khập khiễng.
Trên người mặc chiếc trường bào màu xanh ta may cho chàng ba năm trước, cổ tay áo đã sờn.
Sau khi khách tản đi, chàng mới bước đến trước quầy, đặt xuống một chiếc hộp gấm.
Bên trong là ngân phiếu.
“Mẫu thân có giấu một trang viên ở nông thôn, hôm qua mới tra ra. Ta đã bán nó, bù đủ của hồi môn cho nàng.”
Ta bảo người coi sổ sách đối chiếu.
Hai mươi vạn ba ngàn lượng.
“Còn thiếu sáu vạn bảy ngàn lượng.”
“Ta sẽ chép sách, dạy học ở nghĩa thục nơi lưu đày, tiền kiếm được mỗi năm đều gửi về kinh thành.”
“Đó là chuyện của ngươi.”
Chàng lại lấy ra một phương thuốc.
“Chân của nhạc phụ vẫn còn cơ hội chữa. Ta mang từ Bắc cảnh về một lang trung giỏi trị v/ế/t t/h/ư/ơ/n/g cũ, ngày mai sẽ đến Ôn gia.”
“Chẩn phí bao nhiêu?”
“Không cần đưa.”
“Bao nhiêu?”
Chàng im lặng một lát, báo ra một con số.
Ta bảo người coi sổ sách lấy bạc, đẩy đến trước mặt chàng.
“Cầm lấy.”
“A Nghiễn, ta chỉ muốn thay nhạc phụ làm chút việc.”
“Phụ thân ta không cần ngươi tận hiếu.”
Chàng nhận bạc.
“Được.”
Trên phố truyền đến tiếng xe t/ò lăn qua đá lát.
Quan sai áp giải t/ò lưu đày đã đến.
Bùi Lăng quay đầu nhìn thoáng qua.
“Sau này nàng sẽ gả chồng sao?”
“Có lẽ.”
“Có người trong lòng rồi?”
“Không liên quan đến ngươi.”
Chàng gật đầu.
“Đúng, không liên quan đến ta nữa.”
Đến cửa, chàng lại dừng bước.
“Một năm ở Bắc cảnh, ta thường mơ thấy nàng.”
“Trong mộng, ta không mang đại phu đi, cũng không đi ngang qua bên vú nuôi. Trường Canh lớn lên, sẽ nắm ngón tay ta gọi phụ thân.”
“Sau khi tỉnh dậy, ta luôn phải qua rất lâu mới nhớ ra, nó đến một ngôi mộ cũng không có.”
Ta lật sang một trang sổ sách.
“Ta không làm những giấc mộng như vậy.”
“Ta biết.”
Chàng đứng ở cửa.
“A Nghiễn, đợi khi hết hạn lưu đày, nếu ta còn sống, có thể trở về tìm nàng không?”
Ta ngẩng đầu nhìn chàng.
“Chàng còn muốn ta đợi mấy năm nữa?”
“Không cần nàng đợi. Ta có thể đợi nàng.”
“Chàng đợi, là Ôn Nghiễn của ngày xưa.”
Chàng sững người tại đó.
“Chàng mong ta tiếp tục thấu hiểu nỗi khổ của chàng, mong ta sau khi nhận bồi thường thì quên đi đứa trẻ. Chàng cho rằng mình đã chịu hình phạt, lập công, trả hết bạc, thì ta nên trở về bên chàng.”
“Nhưng nàng ấy đã không còn từ lâu rồi.”
Bùi Lăng nhìn ta.
“A Nghiễn, ta yêu nàng.”
Câu nói này đến quá muộn.
Ta đặt sổ sách xuống, hành một lễ toàn phần với chàng.
“Bùi công tử, mời lên đường.”
Cả người chàng cứng đờ.
Thành hôn bảy năm, ta chưa từng dùng lễ tiết xa cách như vậy với chàng.
Chàng từng là phu quân của ta, cũng từng là một tấm bài vị trong đền Trung Liệt.
Nay, chỉ còn lại một Bùi công tử.
Quan sai bước vào thúc giục, xích sắt lại khóa chặt cổ tay chàng.
Bùi Lăng đi đến bên xe t/ò, quay đầu nhìn rất lâu.
Ta cúi đầu tiếp tục tính sổ.
Lần này, chàng không đợi được ánh mắt của ta.
Bùi Lăng bị lưu đày đến mỏ khoáng ở Bắc địa.
Nửa năm đầu, mỗi tháng chàng đều gửi đến một lá thư.
Trong lá thư đầu tiên viết, thi cốt của Tôn Đại Dũng đã được tìm thấy.
Bộ hài cốt ấy được chôn ở rìa chiến trường năm xưa, trên người vẫn còn sót lại những mảnh giáp chiến.
Tôn lão phu nhân đích thân đến Bắc địa nhận thi hài.
Bùi Lăng thay bà cõng quan tài, đi bảy mươi dặm đường núi.
Tôn Đại Dũng cuối cùng được chôn về cố hương.
Trong lá thư thứ hai viết, Bùi Lăng mở một nghĩa thục bên cạnh mỏ khoáng, thu nhận những đứa trẻ mà binh sĩ trận vong để lại.
Lá thư thứ ba rất ngắn:
“A Nghiễn, hôm nay ta mới hiểu, bồi thường chỉ có thể khiến người sống bớt chịu một chút khổ, không thể khiến người c/h/ế/c trở về.”
Ta cất ba lá thư vào hộp gỗ, không hồi âm.
Về sau, thư gửi đến ngày càng ít.
Vết thương ở chân Bùi Lăng tái phát ở Bắc địa, không thể xuống mỏ nữa, chỉ có thể ở lại nghĩa thục dạy trẻ con biết chữ.
Hai năm sau, triều đình bãi bỏ lệ cũ cưỡng ép quả phụ thủ tiết.
Ta mời thợ đá dỡ bỏ cổng chào trinh tiết bên ngoài khu đất cũ của Hầu phủ.
Có người khuyên ta:
“Đây rốt cuộc là vinh quang ngự ban, bao nhiêu nữ tử cầu cũng không được.”
“Ta cần nó làm gì?”
“Để chứng minh ngươi từng có tình nghĩa sâu nặng.”
Ta nhìn dòng chữ “Bùi môn Ôn thị” khắc trên cổng chào.
“Ta có tình nghĩa hay không, không cần một tảng đá để chứng minh.”
Búa đá giáng xuống.
Hai chữ “Bùi môn” nứt ra trước tiên.
Trong đám đông vây xem có người nhận ra ta.
“Đó là Bùi phu nhân năm xưa thủ tiết thay chồng.”
Nữ hỗ trợ trong cửa hàng lập tức sửa lại:
“Đông gia của chúng ta họ Ôn.”
Cổng chào bị dỡ được một nửa, Tôn lão phu nhân đến tìm ta.
Bà già hơn trước, trong lòng ôm một bọc vải.
“Bùi Lăng c/h/ế/c rồi.”
Tay ta dừng lại trên trang sổ.
“Khi nào?”
“Mùng chín tháng trước. Bắc địa bùng dịch, chàng vốn đã có v/ế/t t/h/ư/ơ/n/g cũ, không gắng gượng qua khỏi.”
Tôn lão phu nhân đặt bọc vải lên bàn.
Bên trong là một chiếc trường bào màu xanh đã giặt bạc màu, cùng một lá thư không đề tên.
“Trước khi c/h/ế/c, chàng nhờ người đưa đến chỗ ta.”
“Chàng nói, nếu ngươi không muốn xem, thì đốt đi. Chàng cũng không cầu ngươi thay chàng thu liệm.”
Ta mở lá thư.
Trong đó không có kể khổ, cũng không có cầu xin.
Chỉ có ba lá thư cũ năm xưa từng bị trả lại.
Mỗi lá đều được vuốt phẳng cẩn thận.
Trên tờ giấy cuối cùng viết:
“A Nghiễn, ta từng nghĩ chỉ cần quay đầu lại, nàng vẫn sẽ ở nơi cũ.”
“Nay mới hiểu, người bị bỏ lại không có nghĩa vụ thay ta giữ gìn ngày xưa.”
“Ta thay Trường Canh lập mộ y quan. Trên bia theo ý nàng, chỉ khắc Ôn Trường Canh.”
“Thư này không cần hồi âm.”
Trên giấy không có vết nước mắt, nhưng chữ cuối cùng lại hạ xuống rất nhẹ.
Tôn lão phu nhân nhìn cổng chào đổ xuống ngoài cửa sổ.
“Chàng được chôn bên cạnh mộ con trai ta, không có danh hiệu Thế tử, cũng không có thụy hiệu.”
“Trên bia chỉ có hai chữ Bùi Lăng.”
“Triều đình hỏi ngươi, có bằng lòng đưa hài cốt chàng về kinh thành không.”
Ta đặt thư trở lại bọc vải.
“Không đưa.”
Tôn lão phu nhân không khuyên nữa.
Bà cầm chiếc trường bào màu xanh, đi đến cửa lại dừng một chút.
“Cả đời chàng, nửa đầu có lỗi với rất nhiều người.”
“Những việc làm ở nửa sau, cũng không đổi lại được những gì các ngươi đã m/ấ/t.”
“Ngươi không tha thứ cho chàng, là phải.”
Ta nhìn bóng lưng còng xuống của bà.
“Lão phu nhân.”
Bà quay đầu lại.
“Những đứa trẻ trong nghĩa thục phải làm sao?”
“Thiếu lương, cũng thiếu tiên sinh.”
Ta lấy từ tủ sổ sách ra một tấm ngân phiếu.
“Ta sẽ sai người đưa lương, rồi phái hai tiên sinh đến đó.”
“Nghĩa thục giữ lại, đổi tên thành Hoài Trung học đường.”
Tôn lão phu nhân nhận ngân phiếu, vành mắt đỏ lên.
“Được.”
Bên ngoài truyền đến một tiếng nổ lớn.
Thanh xà ngang cuối cùng của cổng chào trinh tiết đập xuống đất, tung bụi mù khắp phố.
Thợ đá từ trong đống đá vụn đào ra một khối đá khắc chữ “Ôn thị”, hỏi ta có muốn giữ lại không.
“Không giữ.”
“Đập nát sao?”
“Lát đường đi.”
Khối đá từng giam hãm tên ta, bị lát trước cửa thiện đường.
Từ đó về sau, mỗi ngày đều có người giẫm lên nó.
Không còn ai gọi ta là Bùi phu nhân.
Năm ấy mùa đông, thiện đường mới thu nhận một bé gái năm tuổi.
Nó ôm bọc nhỏ của mình, rụt rè đứng ngoài cửa.
“Đông gia, con có thể ở lại không?”
Ta lau tro bụi trên mặt nó.
“Tên gì?”
“Không có tên.”
Ta mở sổ danh sách, để nó tự chọn.
Nó không biết chữ, nhìn chằm chằm vào giấy rất lâu, cuối cùng chỉ vào một chữ.
“Cái này đẹp.”
Đó là chữ “Hòa”
Ta cầm bút, viết vào sổ:
Ôn Hòa.
Bé gái ngẩng mặt lên.
“Con theo họ Đông gia sao?”
“Con có thể theo họ bất kỳ ai, cũng có thể chỉ làm chính mình.”
Nó không hiểu, nhưng lại cười.
Ta giao sổ danh sách cho quản sự, về phòng mở chiếc hộp gỗ đựng đồ cũ.
Đôi giày hổ đầu đã phai màu.
Lá thư cuối cùng Bùi Lăng gửi đến, ép dưới đôi giày.
Ta không đốt, cũng không xem lại.
Cổng chào trinh tiết đổ.
Hầu phủ tan.
Người đàn ông từng bảo ta đợi ba năm, cũng vĩnh viễn ở lại Bắc địa.
Ta đậy hộp gỗ lại, đẩy cửa sổ ra.
Bọn trẻ trong thiện đường đang giẫm lên phiến đá từng khắc chữ “Ôn thị”, chạy vào sân.
Gió xuân từ ngoài cửa sổ thổi vào.
Không còn tên của ai có thể giam ta tại chỗ.
– Hết –