Vị vương phi thế thân này, ta đã làm tròn ba năm, cuối cùng cũng sắp chịu đến lúc chia tay.
Năm đó Hoắc Thời Nghiễn rước ta vào phủ, không vì tình ái, chỉ để lấp vào chỗ trống cho đứa con trai đã mất mẹ ruột của hắn.
Ta sống trong vương phủ này như một cái bóng, hiền thục giữ lễ, dịu dàng hiểu chuyện, chưa từng làm điều gì dư thừa.
Ngày mười lăm mỗi tháng là ngày cha con của Hoắc Thời Nghiễn và Hoắc Kiêu.
Ba năm qua chưa từng bỏ lỡ, nhưng lần này hắn tạm thời ra khỏi thành làm công vụ, chỉ có thể sai người nhắn lại, nhờ ta đến tư thục đón Hoắc Kiêu về phủ.
Khi ta đến, tư thục đã vắng hơn nửa, chỉ còn vài đứa trẻ nằm sấp dưới hiên chờ người nhà tới.
Hoắc Kiêu bị vây ở chính giữa, mấy bạn đồng môn đang nhìn chằm chằm vào chiếc khóa trường mệnh trên cổ thằng bé.
Chiếc khóa được đúc bằng vàng ròng, rủ xuống những sợi anh lạc mảnh mai, nhìn là biết quý giá.
“Hoắc Kiêu, khóa của ngươi đẹp thật đấy, làm ở đâu vậy? Ta bảo mẹ ta cũng làm cho ta một chiếc!”
Hoắc Kiêu hất cằm, trong vẻ mặt mang theo vài phần đắc ý: “Hoa văn này là mẹ ruột ta tự tay vẽ, trên đời chỉ có một chiếc này.”
“Oa, mẹ ruột của ngươi giỏi thật.”
“Lại còn biết làm bánh xốp, tính tình lại dịu dàng, mẹ ta mà cũng như vậy thì tốt biết mấy.”
“Mẹ ta thì dữ dằn, cả ngày chỉ biết bắt ta chép sách.”
Người thường ngày đưa đón Hoắc Kiêu là ta.
Thỉnh thoảng ta sẽ mang một đĩa bánh xốp mới nướng đến chia cho bọn trẻ, nên chúng đều coi ta là mẹ của Hoắc Kiêu, sau lưng còn nói vị mẹ này tốt nhất thiên hạ.
Bánh xốp đúng là do ta làm, nhưng hoa văn trên khóa không liên quan gì đến ta.
Ta lặng lẽ rụt chân đã bước vào tư thục lại, đứng sau cột hiên.
Quả nhiên, Hoắc Kiêu nhíu mày, giọng tuy non nớt nhưng mang theo vẻ chán ghét không hề che giấu: “Các ngươi đừng nói bừa.”
“Nàng ấy mới không phải mẹ ta, nàng ấy chỉ là người hầu chăm sóc ta trong phủ.”
“Mẹ ta là họa sư của Kim Ngọc Các, giỏi lắm đấy.”
Bọn trẻ “oa” lên một tràng kinh hô, quấn lấy hỏi mẹ ruột nó trông thế nào, khi nào trở về.
Ta đứng dưới hiên, nhìn nó khen mẹ ruột đến mức trên trời có một, dưới đất không hai, trong lòng lại không có chút khó chịu nào.
Thực ra nó nói không sai.
Ta đúng thật không phải mẹ nó, chỉ là một “người hầu” nhận tiền làm việc.
Giữa ta và Hoắc Thời Nghiễn không có tình nghĩa.
Cuộc hôn nhân này từ đầu đến cuối chỉ là một cuộc giao dịch.
Hoắc Thời Nghiễn thân là thân vương đương triều, có một năm nọ từ phương Nam trở về, bên cạnh có thêm một cô gái họ Tô, tên là Tô Tri Vi.
Hai người tình đầu ý hợp, đáng tiếc vị cô nương ấy tính tình cương liệt, không chịu bị quy củ vương phủ trói buộc, nên cuối cùng vẫn không thành thân với hắn.
Sau đó nàng sinh Hoắc Kiêu, để đứa trẻ lại cho Hoắc Thời Nghiễn, rồi lại không ngoảnh đầu mà đi xa.
Đứa trẻ ngày một lớn, dần hiểu chuyện, luôn quấn lấy đòi mẹ.
Hoắc Thời Nghiễn lúc này mới nghĩ đến việc tìm cho nó một người mẹ kế.
Điều kiện rất oái oăm.
Vừa phải thật lòng thương Hoắc Kiêu, lại không được mơ tưởng đến danh phận vương phi.
Dù sao nếu một ngày vị cô nương kia trở về, vị trí chính chủ vẫn phải trả lại cho nàng.
Hắn chọn ta, một nửa vì giữa mày mắt ta có vài phần giống Tô Tri Vi, một nửa vì lúc đó ta đang cùng đường, dễ nắm thóp.
Từ ngày bước vào vương phủ, ta đã biết mình đến để thay Tô Tri Vi giữ chỗ trống này.
Chúng ta lập khế ước, thời hạn ba năm.
Trong ba năm ấy, hắn là cha của tiểu thế tử, ta là mẹ kế của tiểu thế tử. Đợi ta chịu đủ ba năm, sẽ nhận được ba vạn lượng bạch ngân rồi cao chạy xa bay.
Ba vạn lượng, đủ để ta mang theo người quan trọng đổi sang một vùng trời đất khác.
Cho nên ta không có lý do gì để không đồng ý.
2.
Gả vào vương phủ ba năm nay, công việc của ta thật ra rất nhẹ nhõm.
Việc nội trợ đã có lão thái quân trong vương phủ nắm giữ, điều duy nhất ta phải để tâm chính là chuyện ăn mặc ở đi lại của Hoắc Kiêu.
Nó nói ta là người hầu hạ nó, cũng không tính là oan cho ta, chỉ có điều lời nói không dễ nghe lắm.
Trên đường đón nó về phủ, ta hiểu rõ trong lòng nhưng giả vờ hồ đồ, như thường lệ hỏi nó tối nay muốn ăn gì.
Nó căng khuôn mặt nhỏ, kể ra ba bốn tên món ăn.
Ta liếc thấy nó lén nuốt một ngụm nước miếng, trong lòng nghĩ đứa trẻ này dù sớm hiểu chuyện đến đâu, rốt cuộc vẫn là một con mèo con tham ăn.
Chuyện khác không dám khoe, nhưng tay nghề nấu ăn của ta quả thật không tệ. Mấy năm nay, chỉ cần hai cha con họ dùng bữa trong phủ, bếp núc phần lớn đều do ta cầm muỗng.
Về đến phủ, Hoắc Kiêu chui ngay vào thư phòng nhỏ của nó.
Ta làm xong cơm canh, đẩy cửa bước vào gọi nó, lại thấy nó vẻ mặt hoảng hốt giấu thứ gì ra sau lưng.
Nó tức giận vì bị bắt quả tang, trừng mắt nhìn ta: “Không phải ngươi nói phải gõ cửa trước sao? Sao ngươi không gõ cửa mà đã vào?”
Ta nhẫn nại giải thích: “Ta gõ mấy tiếng rồi, ngươi không trả lời, ta sợ ngươi một mình xảy ra chuyện gì.”
Nó hừ một tiếng, mặt lạnh tanh lách qua người ta đi ra ngoài.
Ta tiện tay dọn bàn học giúp nó, lại thấy trên án có mấy tờ giấy nhàu nát bị vứt đó.
Nét chữ còn non nớt, nhưng từng nét từng khoản đều vô cùng nghiêm túc.
“Mẹ, từ khi xa cách mẹ vẫn bình an chứ.”
“Mẹ, khi nào mẹ lại đến nhìn con một lần?”
Trên giấy xóa rồi viết, viết rồi xóa, đủ thấy nó đã cân nhắc bao nhiêu lần.
Ta bỗng nhớ đến chiếc khóa trường mệnh nó nói hôm nay ở tư thục, hoa văn là do Tô Tri Vi tự tay vẽ.
Ta vốn tưởng lại là Hoắc Thời Nghiễn bịa ra để dỗ đứa trẻ.
Chuyện này không phải lần đầu.
Tô Tri Vi tuy không ở đây, nhưng Hoắc Thời Nghiễn vẫn luôn cẩn thận duy trì sợi dây ràng buộc giữa nàng và Hoắc Kiêu, cách vài ngày lại sai người mua mấy món đồ mới lạ, nói là mẹ gửi về.
Mỗi lần Hoắc Kiêu đều tin là thật, ôm những thứ đó vui vẻ mấy ngày.
Nhưng nhìn tờ giấy này viết trang trọng như vậy, ta mơ hồ cảm thấy, lần này e là thật.
Tô Tri Vi có lẽ thật sự sắp trở về.
Ta không xem thêm mấy tờ giấy đó nữa, cất chúng vào hộp sách, xoay người trở về hoa sảnh.
Hoắc Kiêu đã ngồi ngay ngắn bên bàn.
Nó tuy tính tình bướng bỉnh, nhưng quy củ khi ăn cơm lại rất tốt, thấy ta ngồi xuống mới bắt đầu cầm đũa.
Đợi bọn nha hoàn thu dọn bát đĩa, nó vẫn ngồi trên ghế, cắn môi, bộ dạng như muốn nói lại thôi.
Dung mạo của nó gần như được in từ mặt Hoắc Thời Nghiễn ra, thanh tú cao quý, chỉ có đôi mắt là trong trẻo hơn một chút.
Nhìn thấy đôi mắt ấy, luôn khiến ta nhớ đến một người khác.
Nhưng rốt cuộc, vẫn không bằng người ấy.
Ta cười cười, hỏi nó: “Tiểu thế tử có lời gì muốn nói với ta sao?”
Hoắc Kiêu mím môi, cuối cùng vẫn không nói ra gì, nhảy xuống ghế trở về tiểu viện của mình.
Ta vốn cũng không phải người thích truy hỏi đến cùng, nó không nói, ta cũng không hỏi.
Ta chỉ cần bảo đảm cho nó cơm ăn áo mặc đầy đủ, còn những chuyện khác vốn không nên là việc ta quản, ta cũng lười quản.
Đêm xuống, ta không ngủ được, bèn hâm một bầu rượu ngồi trong viện ngắm trăng.
Ánh trăng vừa đẹp, cây hải đường bên tường cũng đã nở, cánh hoa phấn trắng rải đầy mặt đất.
Ta đang uống đến có chút ngà ngà, Hoắc Thời Nghiễn bỗng từ ngoài bước vào, thấy ta nằm sấp ngủ gật, đưa tay cởi áo ngoài khoác lên cho ta.
“Đêm gió lạnh, sao lại ngủ ở đây?”
Ta mơ mơ màng màng mở mắt, một lúc lâu mới nhận rõ người trước mặt.
“Sao ngươi lại về rồi?”
Hắn nhàn nhạt liếc bầu rượu trên bàn đá, giọng mang ý cười: “Có tâm sự? Lại ngồi uống rượu một mình?”
Giọng điệu thân mật như vậy khiến ta có chút không quen, cơn say lập tức tan đi hơn nửa.
Ta tháo áo ngoài của hắn trả lại, bình tĩnh nói: “Hoắc Thời Nghiễn, chúng ta hòa ly đi.”
Cách ước hẹn ba năm còn hai tháng, đã Tô Tri Vi sắp trở về, sớm một chút cũng chẳng có gì.
Ta vốn tưởng hắn sẽ đồng ý ngay.
Dù sao ta, kẻ thế thân này, đã không còn tác dụng gì nữa.
Nhưng sắc mặt hắn bỗng trầm xuống, giọng cũng lạnh đi vài phần: “Ngươi gấp gáp muốn đi như vậy sao?”
“Ta gần đây công vụ bận rộn, mấy chuyện này để hôm khác bàn lại.”
Nói xong, hắn xoay người đi đến viện của Hoắc Kiêu.
Ta đứng ngây tại chỗ, nghĩ thế nào cũng không hiểu.
Ba năm nay chúng ta danh nghĩa là vợ chồng, thực ra càng giống đông gia và chưởng quầy.
Hắn đưa bạc, ta làm việc, ngay cả phòng cũng không ở chung.
Nay khế ước sắp hết, người hắn đặt trên đầu quả tim cũng đã trở về, đúng là nên chia tay trong êm đẹp, mọi bên đều vui mới phải.
Hắn như vậy rốt cuộc là vì sao?
3.
Hoắc Thời Nghiễn hình như thật sự bận rộn, sau đó nhiều ngày liền, ta lại ngay cả mặt hắn cũng không gặp.
Ta vốn định hỏi hắn, chuyện hòa ly có phải có khó khăn gì không, nay cũng đành tạm gác lại.
Một buổi sáng nọ, nha hoàn mang đến một hộp gấm, nói là vương gia dặn đưa đến phòng ta.
Ta không mở, tiện tay đặt lên bàn trang điểm.
Đưa Hoắc Kiêu đến tư thục, ta lại mang theo một gói bánh xốp mới nướng.
Bọn trẻ ùa tới, vây quanh ta nói: “Mẹ của thế tử là tốt nhất!”
Hoắc Kiêu đứng ngoài đám đông nhìn ta một lát, không nói gì, nhấc chân bước vào học đường trước.
Ta nhìn nó đi vào, bèn bảo xa phu rẽ sang phía đông thành.
Trong trạch viện phía đông thành, Thương Đồng đang luyện quyền trong sân.
Nàng thấy ta bước vào, mặt mày rạng rỡ: “A Nhược, hôm nay lại mang món ngon gì đến vậy?”
Ta xách hộp thức ăn lắc lắc: “Cháo thịt nạc ngươi thích nhất.”
Hai người chúng ta mỗi người múc một bát, ngồi dưới hiên chậm rãi uống.
Ta móc từ trong tay áo ra một tờ khế đất, đặt trước mặt nàng.
“Trạch viện ở Giang Nam ta đã nhờ người lo liệu thỏa đáng, sẽ có người tiếp ứng.”
“Ngươi hai ngày nay thu xếp xong, thì dẫn A Hành qua đó trước, ta sẽ đến ngay sau.”
Thương Đồng nhận khế đất, không hỏi thêm gì, chỉ khẽ gật đầu.
Ánh nắng từ đầu tường chiếu xiên xuống, rải khắp sân trong.
Ta bưng bát, nhìn bầu trời trong sạch ngoài tường mà thất thần.
“A Nhược, là chúng ta đã làm chậm bước chân của ngươi.” Nàng bỗng nhẹ giọng mở lời.
Ta nhìn mấy đám mây lười biếng nơi chân trời, hỏi nàng: “A Đồng, ngươi nói A Hành có thích tiểu viện đó không?”
Thương Đồng khựng lại, rồi ánh mắt trở nên xa xăm và dịu dàng: “Sẽ thích, A huynh xưa nay thích nhất Giang Nam.”
Trong lòng ta ấm lên, khẽ nói: “Vậy thì tốt.”
Nàng không nói gì thêm, chỉ khẽ thở dài.
Ta quay sang nhìn nàng: “Giữa ngươi và ta, vĩnh viễn không cần nói hai chữ liên lụy.”
“Không có ngươi và A Hành, trên đời này đã sớm không còn Thương Nhược ta rồi.”
“Chúng ta là người một nhà, từ mười năm trước đã là vậy.”
Ra khỏi phía đông thành, ta canh đúng giờ đến tư thục đón Hoắc Kiêu.
Vừa đến cửa, một nha hoàn đã đón lên báo: “Phu nhân, thế tử đã được vương gia đón đi rồi.”
“Vương gia và Tô cô nương cùng đến, nói muốn dẫn thế tử đi dạo hồ.”
Ta gật đầu, phớt lờ ánh mắt đồng cảm của nha hoàn kia, một mình quay về vương phủ.
Hoắc Kiêu không ở trong phủ, ta ngược lại như được nghỉ mấy ngày.
Mỗi ngày nấu cơm mang đến phía đông thành ăn cùng Thương Đồng, lại cùng nàng dạo chợ, mua ít đồ cần dùng cho chuyến đi.
Những ngày tháng hiếm có được thanh thản nhàn nhã.
4.
Đêm hôm ấy, vào khoảng nửa đêm về sau, ta đang ngủ rất say.
Bỗng có nha hoàn đến gõ cửa: “Phu nhân, vương gia xin người đến viện của thế tử xem một chút.”
Ta khoác áo chạy đến tiểu viện nơi Hoắc Kiêu ở, từ xa đã nghe thấy trong đó vọng ra tiếng khóc nháo.
Trong phòng đèn đuốc sáng trưng, đứng đầy một phòng nha hoàn và bà tử, nhưng không ai dỗ được đứa trẻ.
Ta nhìn một vòng, không thấy Tô Tri Vi.
Hoắc Thời Nghiễn đứng trước giường, chân mày nhíu chặt: “Hai ngày nay nó ngủ không ngon, trên đường lại bị nhiễm gió, đến đêm liền phát sốt cao.”
Thái y đã kê thuốc, nhưng Hoắc Kiêu sống c/h/ế/c không chịu uống, chỉ co ro trong chăn khóc nháo.
Hoắc Kiêu từ nhỏ giấc ngủ đã không được yên ổn.
Mấy ngày đầu ta mới vào phủ, nửa đêm nó thường giật mình tỉnh dậy, khóc đến xé gan xé ruột, nhất định phải có người bế lên dỗ dành mới chịu.
Khoảng thời gian đó, gần như đêm nào ta cũng ngủ trên sập trong phòng nó, đợi đến khi nó ngủ thật sâu mới dám nhắm mắt.
Hai năm nay cuối cùng đã đỡ hơn chút, nhưng nó đặc biệt kén giường. Phàm là ra ngoài qua đêm, nhất định phải mang theo gối nhỏ, áo ngủ và chăn nệm nó đã quen dùng, nếu không sẽ ngủ không yên.
Trước kia khi nó cùng lão thái quân ra ngoài ở vài ngày, ta luôn chuẩn bị sẵn sàng cho nó từ trước.
Vì chuyện này xưa nay đều do ta lo liệu, Hoắc Thời Nghiễn có lẽ vốn không biết. Lần đó bọn họ đi gấp, lại không có ai dặn ta, nên ta không kịp chuẩn bị.
Ta bước lên phía trước.
Hoắc Kiêu sốt đến hai má đỏ bừng, co ro trong chăn nức nở.
Ta ôm thằng bé vào lòng, nhẹ nhàng vỗ lưng nó, miệng không nhanh không chậm ngân nga một điệu.
Nó dần dần yên tĩnh lại, bàn tay nhỏ nắm chặt vạt áo ta, mơ màng gọi một tiếng: “Mẹ.”
Ta cúi đầu nhìn khuôn mặt nhỏ nóng hổi của nó, trong lòng biết đây là sốt đến hồ đồ rồi.
Ta tính là mẹ gì của nó chứ.
Ta bất quá chỉ là một người hầu.
Loay hoay hồi lâu, Hoắc Kiêu cuối cùng cũng ngủ yên.
Ta đút nó uống thuốc, giúp nó kéo chăn đắp kín, rồi mới ngồi xuống bên bàn.
Hoắc Thời Nghiễn đưa cho ta một chén trà, day day ấn đường: “Làm phiền ngươi nửa đêm phải chạy một chuyến.”
“Vương gia nói quá rồi, đây vốn là việc trong phận của ta.”
Ta lại bổ sung một câu: “Sau này các người dẫn nó ra ngoài, nhớ mang theo gối nhỏ và áo ngủ chăn nệm nó quen dùng.”
Hoắc Thời Nghiễn nhìn ta rất lâu, nơi khóe môi nổi lên một tia cay đắng: “Ngươi nhất định phải xa cách với ta như vậy sao?”
Ta không hiểu lắm ý hắn trong câu này, không khỏi nhìn về phía hắn.
Hắn cũng đang nhìn lại, trong ánh mắt mang theo chút gì đó nóng bỏng: “Chiếc hộp gấm ta tặng nàng, nàng vẫn chưa mở ra xem sao?”
Ta nhớ hôm đó lúc kiểm kê tài vật đã mở nó ra, bên trong là một cây trâm châu.
Thân trâm thành sắc cực tốt, hạt châu khảm tròn trịa, nhìn qua là biết giá trị không nhỏ.
Ba năm qua Hoắc Thời Nghiễn cũng tặng ta không ít trang sức, nhưng không có món nào quý giá bằng nó.
Ta vốn định tìm cơ hội trả lại.
Nay nghĩ lại, cây trâm châu kia e rằng còn có ý nghĩa khác.
Ta đang định mở lời, hắn lại bỗng đưa tay phủ lên mu bàn tay ta: “A Nhược, đừng hòa ly, được không?”
5.
Ta không biết giữa Hoắc Thời Nghiễn và Tô Tri Vi rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, mà lại khiến hắn cam tâm buông bỏ vị “bạch nguyệt quang” ấy, quay sang muốn giữ ta lại.
Nhưng trong lòng ta rất rõ, tuyệt đối không phải vì hắn có tình cảm sâu đậm gì với ta.
Hoắc Thời Nghiễn là người tự hạn chế, vững vàng đến mức gần như đáng sợ.
Mỗi việc hắn làm đều xuất phát từ lợi hại, cân nhắc đi cân nhắc lại rồi mới chọn ra phương án tối ưu.
Ta cũng lười đoán sau lưng sự giữ lại này của hắn rốt cuộc đang tính toán điều gì.
Tâm sự của người khác, xưa nay ta không muốn bận tâm nhiều.
Ta rút tay về, giọng nhàn nhạt: “Vương gia, ước hẹn ba năm trước, người quên rồi sao?”
Hắn ngồi bên cạnh ta, dường như không nghe rõ lời ta, tự mình nói tiếp: “Vì Tô Tri Vi, nàng hoàn toàn không cần bận lòng.”
“Ta và nàng ấy đã nói rõ ràng rồi. Lần này nàng ấy trở về chỉ muốn gặp đứa trẻ, sau này chúng ta sẽ không qua lại nữa.”
“Mấy năm nay có nàng trông coi trong phủ, ta làm gì cũng yên tâm. Nàng cũng thấy rồi đấy, Hoài Giác, Hoắc Kiêu đều ỷ lại vào nàng như vậy.”
“Chúng ta cứ sống như hiện nay, không tốt sao?”
Ta nhìn hắn, bình tĩnh đáp: “Không tốt.”
“Ngươi và Tô Tri Vi thế nào, ta không biết, cũng không quan tâm.”
“Nhưng giữa ngươi và ta, tuyệt đối không có khả năng.”
Năm đó Thương Đồng bệnh nặng, số bạc chúng ta tích góp được chẳng mấy chốc đã cạn.
Ta khắp nơi cầu y, gần như cùng đường, đúng lúc Hoắc Thời Nghiễn đề nghị ta làm vương phi khế ước ba năm, còn hứa thay ta mời danh y, ta mới gật đầu.
Nay thân thể Thương Đồng đã khỏi, chúng ta có cuộc sống của riêng mình phải sống.
Chúng ta phải đến Giang Nam an gia, đi đến một lời hẹn đã muộn mất bao nhiêu năm.
Hoắc Thời Nghiễn có lẽ không ngờ ta đáp dứt khoát như vậy, trong đôi mắt sâu thẳm ấy lại hiện lên vài phần tổn thương.
“A Nhược, nàng đối với ta lẽ nào một chút tình ý cũng không có?”
Ta cười cười: “Có chứ.”
“Đối với một vị đông gia hào phóng, dù sao cũng có vài phần cảm kích.”
Lời này nói rất thật, ta quả thật cảm kích hắn.
Nếu không phải năm đó hắn chịu bỏ bạc lại chịu đứng ra mời đại phu, ta và Thương Đồng e rằng đã sớm mất mạng.
Cho nên ba năm nay, ta tận tâm chăm sóc hai cha con họ, phàm là chuyện của họ, ta gần như hễ cầu là ứng.
Nhưng cũng chỉ đến thế mà thôi.
Ta tự nhận đã nói rất rõ ràng, Hoắc Thời Nghiễn lại vẫn không chịu nhả lời.
“Nàng không cần vội trả lời ta, ta không thúc nàng.”
“Đêm đã khuya, nàng về nghỉ trước đi, chỗ này để ta trông coi.”
Cơn sốt cao của Hoắc Kiêu lặp đi lặp lại mấy ngày, tinh thần vẫn luôn uể oải, ta bèn xin nghỉ, cả ngày ở trong phủ chăm sóc nó.
Ta thay đủ cách làm đồ ăn cho nó, cuối cùng ăn uống của nó cũng dần khá lên.
Một ngày nọ, ta đang ngồi bên sập đút cháo cho nó, một tiểu tư hốt hoảng từ ngoài chạy vào, đưa lên một phong thư.
Ta mở ra liếc qua, chén trong tay “choang” một tiếng rơi xuống đất, mảnh sứ văng tung tóe.
Cháo trong chén đổ đầy mặt đất, Hoắc Kiêu bị dọa giật mình.
Trong thư nói, Thương Đồng hôm nay bỗng nhiên ngất xỉu, đại phu đang cứu chữa.
Trong đầu ta ầm một tiếng, trống rỗng.
Hoắc Thời Nghiễn đúng lúc từ ngoài cửa bước vào, nhanh chân đi đến trước mặt ta, hỏi đã xảy ra chuyện gì.
Hai tay ta run rẩy đến không thành bộ dạng, ngay cả hô hấp cũng khó khăn.
Sao lại thành ra thế này.
Hôm qua khi ta đến thăm nàng, nàng còn khỏe mạnh phơi quần áo trong sân.
Rõ ràng ba ngày nữa nàng sẽ lên đường đến Giang Nam.
Sao lại thành ra thế này?
Ta nắm chặt lấy tay áo hắn, nước mắt không khống chế được mà lăn xuống, dùng hết sức mới thốt ra được mấy chữ:
“Đưa ta đến trạch viện phía đông thành.”
Đêm ấy chớp giật sấm rền, mưa lớn như trút nước.
Nước mưa rửa trôi cơn oi bức mấy ngày liền, trong không khí lan ra một mùi tanh của đất.
Ta vẫn đến muộn một bước.
Thương Đồng đã không còn nữa.
Trong đời ta từng có hai luồng sáng, soi ta từ vũng bùn đi một mạch đến bình minh.
Nay cả hai luồng sáng ấy đều đã biến mất không dấu vết.
Ta không buồn không vui làm xong tất cả hậu sự cho nàng.
Mọi thứ đến quá nhanh quá gấp, nhanh như một giấc mơ, ta cứ ngỡ tỉnh dậy nàng vẫn sẽ bưng một bát canh nóng đứng trước mặt ta.
Có lẽ vì tinh thần đã gắng gượng quá lâu, giấc ngủ đó ta đã ngủ rất lâu rất lâu.
Mơ mơ màng màng, dường như có ai đó ngồi bên giường thăm nhiệt độ trán ta.
Trong phòng không thắp đèn, rất tối, chỉ có một tia trăng lọt qua khe cửa sổ khép hờ.
Ta mơ hồ đưa tay lên, nhẹ nhàng chạm vào chân mày mắt của người ấy.
Giây tiếp theo, cổ tay bị người ta nắm lấy.
Một giọng trầm thấp bình tĩnh vang lên trên đỉnh đầu: “Ta và A Hành, giống nhau đến vậy sao?”
Ta bỗng chốc tỉnh táo hẳn.
Ta muốn rút tay về, hắn lại nắm càng chặt.
“Nếu nàng bằng lòng, thì coi ta là hắn, cũng không có gì không thể.”
“Những gì A Hành có thể làm cho nàng, Hoắc Thời Nghiễn ta cũng làm được.”
A Hành.
Cái tên này đã cùng ta suốt mười năm.
Mỗi lần nghe người ta nhắc đến, lòng ta lại như bị bỏng một cái.
Hắn từng kéo ta ra khỏi vực sâu, lại sớm bỏ ta lại một mình mà đi.
Hắn như pháo hoa, cháy sáng nhất trong đêm tối, rồi cũng định sẵn là phải tan thành tro bụi.
Chuyện giữa ta và A Hành, nên bắt đầu từ đâu đây?
6.
Từ khi ta bắt đầu có ký ức, ta đã là một đứa trẻ m/ồ c/ô/i không cha không mẹ.
Đường chủ của Tế Cô Đường là một phu nhân hòa nhã, có chút thủ đoạn, thường dỗ được các quý nhân trong kinh thành quyên tiền quyên vật, để bọn trẻ chúng ta có miếng cơm ăn.
Sau đó bà ấy bị người ta hãm hại, bị tống vào ngục.
Quản sự mới đến là một thư sinh mặt mày trắng trẻo, nhìn thì nho nhã, thực ra lòng dạ độc ác, động một chút là đánh mắng chúng ta.
Hắn ta luôn thích gọi riêng mấy cô bé có dung mạo dễ coi vào phòng mình.
Mọi người đều sợ hắn, nhưng không ai dám lên tiếng.
Đến ngày lượt ta, ta thừa lúc trời tối chạy trốn ra ngoài.
Cuối cùng vẫn bị bắt trở lại.
Hắn sai người ấn ta xuống ghế dài đánh một trận nhừ tử, rồi nhốt vào chuồng bò sau viện.
Nửa đêm, ta nghe thấy một tràng tiếng sột soạt, tưởng là tên thư sinh ấy lại đến, cả người co rúm thành một cục.
Nhưng mở mắt ra, ta lại thấy một khuôn mặt thiếu niên xa lạ.
Thiếu niên ấy có một đôi mắt cực sáng, như hai ngọn lửa bỗng chốc bùng lên giữa đêm khuya.
Hắn không biết dùng cách gì, mà lại khiến bọn người canh giữ ngủ say như c/h/ế/c.
Hắn cởi dây trói cho ta, ra hiệu im lặng với ta, rồi dẫn ta trèo qua tường sau chạy ra ngoài.
Ở đầu ngõ, một cô nương trạc tuổi ta ôm tay nải đứng chờ sẵn.
Nàng dụi mắt, tò mò đánh giá ta: “Ca, chính là nàng ấy sao?”
Ta lúc này mới biết, ban ngày khi ta bị bắt trở lại, vừa khéo bị hắn trông thấy.
Hai huynh muội họ một đường bám theo đến Tế Cô Đường, định tìm cơ hội cứu ta.
Họ cũng là từ trong nhà chạy trốn ra.
Vì quanh năm bị cha ruột đ/á/n/h đ/ậ/p tàn nhẫn, người làm anh bèn dẫn em gái bỏ đi.
Đêm ấy, ba người chúng ta sợ bị người đuổi theo bắt kịp, mò mẫm trong bóng tối đi suốt một đêm.
Mãi đến khi chân trời hiện lên sắc trắng như bụng cá, mới gặp được một bác tốt bụng, cho đi nhờ xe bò một đoạn.
Chúng ta sẽ đi đâu, con đường phía trước thế nào, không ai biết.
Thiếu niên ấy lại vẫn cười hì hì ngồi trên chiếc xe bò xóc nảy, chân mày giãn ra: “Đừng sợ, chiếc xe này đang chạy về phía những ngày tốt đẹp.”
Khi ấy chúng ta còn chưa quen nhau, vậy mà hắn đã nói với ta rằng, sau này ta sẽ có những ngày tốt lành.
Chiều hôm đó, ba người chúng ta chen chúc dưới gầm một cây cầu cũ nát, ăn chung một bát canh bánh nóng hổi.
Miếng ta được chia hôm ấy thơm ngon lạ thường, nhiều năm sau vẫn còn nhớ được mùi vị đó.
Ban đêm đói đến không ngủ được, chúng ta bèn chuyện trò câu được câu không.
Thiếu niên bỗng nói, từ nay về sau chúng ta chính là người một nhà, phải cùng nhau sống lại từ đầu.
Sống lại từ đầu, thì phải có tên mới.
Thế là A Hành, A Đồng và ta, từ đó cùng họ.
Thương Hành, Thương Đồng, Thương Nhược.
Cái tên trói buộc ba người bèo nước gặp nhau thành một gia đình.
Chúng ta đi suốt một tháng đường, cuối cùng dừng chân ở một thị trấn nhỏ.
Dùng số tiền còn sót lại thuê một căn nhà tranh rẻ nhất.
Sau khi an cư, mỗi người chúng ta đều tìm việc để làm.
Chẳng qua chỉ là những việc vặt như chạy việc cho cửa hàng, giặt giũ vá may giúp người ta, kiếm không được mấy đồng, nhưng ba người cùng chung sức, cuộc sống cứ mỗi ngày một ra dáng hơn.
Thương Hành chỉ lớn hơn ta và Thương Đồng hai tuổi, vậy mà dường như cái gì cũng biết.
Nấu cơm giặt áo, bổ củi sửa nhà, chăm sóc ta và Thương Đồng chu đáo tận tình.
Hắn luôn cười ha hả nói với chúng ta: “Cuộc sống mà, chỉ có càng ngày càng sáng sủa thôi.”
Sau đó có một ngày, Thương Hành mua về một miếng thịt lớn, mặt mày hớn hở nói là để ăn mừng.
Thì ra hắn nhân một cơ duyên trùng hợp quen được một lão tiên sinh dạy học.
Lão tiên sinh bằng lòng nhận ta và Thương Đồng vào tư thục đọc sách.
Hai chúng ta đều thấy khó xử.
Thương Đồng không thích đọc sách, bản thân nàng đã làm đồ đệ ở một tiệm phấn son trong trấn, đang học đến mức say mê, sống c/h/ế/c không chịu đi.
Ta thì ngại nhận ơn huệ không công của người khác.
Nhưng Thương Hành hiếm khi nghiêm mặt, hai huynh muội thay phiên nhau khuyên ta.
Họ nói, thời thế này nữ tử biết chữ, biết đọc sách thì sẽ có thêm một con đường sống, sau này nếu viết thư thay người, tính sổ sách, cũng không đến nỗi bị người ta lừa.
Họ còn nói, nếu ta thấy áy náy, sau này khi có tiền đồ rồi báo đáp họ cũng chưa muộn.
Trong lòng ta hiểu rõ, họ không mưu cầu sự báo đáp của ta, mà thật sự coi ta như người thân nhất.
Vào tư thục rồi, thời gian rảnh của ta giảm đi hơn nửa, nhưng chỉ cần được rảnh, ta vẫn đi chép chép viết viết giúp người ta.
Tiết kiệm được nửa năm tiền, việc lớn đầu tiên ta làm chính là may cho Thương Hành một bộ quần áo mới.
Chiếc áo cũ của hắn không biết đã mặc bao lâu, chỉ tay áo cổ áo đều sờn đến xù lông, miếng vá chồng lên miếng vá.
Vậy mà khi mua sách bút cho ta, hắn ngay cả chân mày cũng không nhíu một cái.
Hôm ấy ta đưa bộ quần áo mới đến trước mặt hắn, Thương Hành nhận lấy, cười xoa đỉnh đầu ta: “Được đấy, biết may áo cho ca ca rồi, không uổng công thương ngươi.”
Ta nhìn đôi mắt cong cong của hắn, tim đập vừa gấp vừa loạn.
Không biết từ khi nào, tình cảm ta dành cho Thương Hành đã lặng lẽ lệch đi.
Ta luôn nhịn không được mà lén nhìn hắn.
Hắn sinh ra đã đẹp, dù mặc áo vải thô, đứng giữa đám đông cũng đặc biệt nổi bật.
Mỗi lần hắn đến học đường đón ta, luôn có mấy cô nha đầu đỏ mặt lén nhìn hắn.
Lại còn có cô nương gan dạ đến hỏi ta: “Huynh trưởng của ngươi đã có người dạm hỏi chưa?”
Mỗi lần ta đều cứng nhắc đáp một câu: “Nói rồi.”
Thực ra chưa.
Ta đã nói dối.
Có một lần hắn đến đón ta tan học, từ xa đã thấy hắn đang nói chuyện với một cô nương.
Cô nương ấy không biết hắn nói gì, che miệng cười đến cong cả eo.
Suốt đường về nhà, ta đều căng mặt không để ý tới hắn.
Hắn đuổi theo phía sau, kéo túi sách của ta, nhíu mày hỏi: “Ở tư thục bị ủy khuất rồi?”
“Không cần huynh quản!”
Hắn ngược lại cười: “Không cần ta quản, vậy ngươi muốn ai quản?”
“Thương Nhược, con nha đầu này càng ngày càng có bản lĩnh rồi?”
Ta chỉ vào cành mai không biết từ khi nào đã cài trước ngực áo hắn, tức đến không biết trút vào đâu: “Đã nhận hoa của người khác rồi, còn để ý tới ta làm gì?”
Thương Hành khựng lại một lát, rồi cười càng vui vẻ, từng chút ánh sáng lấp lánh rơi vào đồng tử màu nhạt của hắn.
Hắn cúi người nhìn thẳng vào ta, giọng lại nhẹ lại chậm: “A Nhược của chúng ta, chẳng lẽ ghen rồi?”
Ngay khoảnh khắc ấy, ta như bị chọc trúng tâm sự, xoay người định chạy.
Hắn lại một phen kéo ta vào lòng.
Cách lớp áo bông dày, ta vẫn có thể nghe thấy nhịp tim trong lồng ngực hắn, vững vàng và mạnh mẽ.
“Đó là đồng môn của ngươi nhờ ta chuyển cho ngươi, chẳng phải ta cũng tặng lễ đáp lại rồi sao?”
“Vốn định để ngươi thân thiết hơn với đồng môn, nếu ngươi không thích, sau này ta không nhận nữa là được.”
Gió lùa qua vạt áo, nhưng không thổi tan được cơn nóng bừng trên hai má ta.
Từ sau đó, giữa ta và Thương Hành như có thứ gì đó lặng lẽ thay đổi.
Chúng ta sẽ vô cớ nhìn nhau một cái rồi vội vàng quay đi, đầu ngón tay lỡ chạm vào nhau đều như bị bỏng mà rụt lại.
Không ai nói rõ ra, nhưng cũng không cần nói gì nữa.
Mãi cho đến một đêm nọ, Thương Đồng hỏi ta: “A Nhược, có phải ngươi thích ca ca ta không?”
“Nếu không thì sao ngươi vừa thấy hắn đã đỏ mặt?”
Ta không còn gì để nói.
Ngày tháng cứ từng ngày tốt lên.
Thương Hành và Thương Đồng đều đã có việc làm ổn định, ta cũng thường nhận được việc viết thư, ghi sổ sách thay người khác.
Năm ấy vào hội đèn Thượng Nguyên, Thương Đồng cùng bạn bè đi ngắm đèn, ta và Thương Hành cùng ra ngoài.
Phố dài treo đầy đèn hoa đủ hình đủ dạng, từ đầu phố xếp tới cuối phố. Gió thổi tới, ánh sáng và bóng hình khắp phố lan tràn, như dải Ngân Hà rơi xuống nhân gian.
Thương Hành luôn đi trước ta nửa bước, nghiêng người thay ta chắn dòng người qua lại.
Đi đến một sạp đèn hoa, hắn dừng chân, lấy từ trên giá xuống một chiếc đèn lồng hình thỏ.
Trả tiền xong, hắn quay lại đưa cho ta: “Cầm lấy, ngươi cầm tinh con thỏ.”
Lời còn chưa dứt, đám đông bỗng ùa về phía này.
Ta bị đẩy lảo đảo, chưa kịp đứng vững, cổ tay đã bị hắn nắm chặt.
Một giọng nói mang theo ý cười từ trên đầu truyền xuống: “Thỏ con, đừng để bị dòng người chen lạc mất.”
Nhiệt độ nơi lòng bàn tay hắn xuyên qua tay áo mỏng truyền tới.
Đó là những khớp ngón tay đã mài giũa qua bao năm làm việc nặng, hơi thô ráp, nhưng lại khiến ta đặc biệt yên tâm.
Ta ngẩng đầu nhìn hắn.
Ánh đèn lúc sáng lúc tắt rơi trên mặt hắn, mà hắn thì vẫn luôn rực sáng như vậy.
Đôi mắt ấy, từ đêm đầu tiên ta quen hắn đã trong trẻo sáng ngời.
Nó từng nhìn thấy bộ dạng chật vật nhất của ta, cũng từng soi sáng mọi vui mừng trong lòng ta.
Ta lặng lẽ rút cổ tay ra, men theo đường vân trong lòng bàn tay hắn, đan mười ngón tay vào nhau.
“Vậy ngươi nắm chặt một chút, ta sẽ không bị lạc nữa.”
Thương Hành khựng lại, yết hầu khẽ lăn, ánh mắt lảng đi.
Qua rất lâu, hắn mới khẽ đáp một tiếng: “Được.”
Đêm ấy, chúng ta mười ngón đan chặt, đi khắp hơn nửa phố đèn.
Pháo hoa không biết từ khi nào đã nổ tung trên bầu trời, ầm ầm vang dội, đám đông đồng loạt kinh hô.
Hắn kéo ta vào trong lòng, cúi đầu nhẹ nhàng đặt một nụ hôn lên trán ta.
“Vừa nãy khi pháo hoa bùng lên, ngươi có ước gì không?”
Giọng hắn hơi khàn.
Ta lắc đầu: “Không cần ước nữa.”
Điều ta ước trong lòng, đã ở ngay bên tay ta rồi.
Cả đời này cứ sống như vậy đi, ba người, một mái nhà, cơm rau đạm bạc cũng được.
Khoảng thời gian ấy, là những ngày tốt đẹp nhất, tốt đẹp nhất trong cuộc đời ngắn ngủi của ta.
Nhưng càng là thứ tốt đẹp, càng không thể giữ lại.
Hội đèn qua chưa được bao lâu, Thương Hành quen được một lữ khách từ Giang Nam đến.
Người ấy nói rất nhiều về phong cảnh Giang Nam, nào là cầu nhỏ nước chảy, nào là thuyền hoa trong mưa khói.
Lòng chúng ta đều hướng về đó, bèn tính chuyện dọn đến Giang Nam sống.
Ba người chúng ta, ngoài nhau ra, vốn cũng chẳng có cố hương gì để lưu luyến.
Nhưng đúng một tháng trước khi lên đường, Thương Hành bỗng nhiên ngã bệnh.
Ban đầu chỉ là sốt cao không lui, sau đó ngay cả đứng dậy cũng thành chuyện khó.
Chúng ta mời khắp các đại phu trong trấn, ai nấy đều bó tay không có cách nào.
Sau đó nghe nói ở kinh thành có danh y, chúng ta bèn tạm thời đổi ý, bán hết mọi thứ có thể bán, suốt đêm gấp rút lên kinh thành.
Tiền chẩn bệnh, tiền thuốc trên đường cứ như nước chảy ra ngoài.
Ta và Thương Đồng liều mạng làm việc, cũng chỉ đủ miễn cưỡng duy trì.
Bệnh của Thương Hành lại mỗi ngày một nặng hơn.
Hắn dần dần ăn không ra vị, người cũng gầy đến biến dạng.
Lòng ta nóng như lửa đốt, lại không biết còn có thể làm gì cho hắn, bèn đến bếp sau của một tửu lâu làm phụ, ngày ngày lén học tay nghề của sư phụ.
Ta làm những món ấy đi làm lại, đổi món hết lần này đến lần khác, chỉ mong hắn ăn thêm được một miếng.
Mỗi lần hắn đều cười nuốt xuống, nói “ngon”.
Nhưng rõ ràng hắn đã chẳng còn nếm ra mùi vị gì nữa.
Mấy ngày cuối cùng, Thương Hành không để ta ra ngoài kiếm tiền nữa.
Hắn chỉ bảo ta ngồi bên sập của hắn, cứ thế nhìn ta.
Hắn gầy đến đáng sợ, sắc mặt trắng bệch, nhưng đôi mắt ấy vẫn luôn sáng như đêm đầu tiên gặp gỡ.
Một buổi chiều gió hòa nắng ấm, hắn lặng lẽ ra đi.
Ta ngồi bên sập của hắn, còn tưởng hắn chỉ ngủ thiếp đi.
Ta khẽ hỏi hắn: “Hôm nay ngươi muốn ăn gì? Ta đi làm cho ngươi.”
Nhưng ta biết, sẽ không còn ai đáp lại ta nữa.
7.
Sau khi Thương Hành đi, ta và Thương Đồng như bị người ta rút mất hồn phách.
Trong nhà thiếu đi một người, bốn phía đều trống trải đến đáng sợ.
Trong bếp không còn bóng dáng bận rộn ấy nữa, bên tai cũng sẽ không còn những lời dặn dò lải nhải của hắn.
Ta dựa vào những ký ức vụn vặt ấy để gắng gượng qua hết ngày này đến ngày khác không có hắn.
Ta nhớ những vết nhăn nơi khóe mắt khi hắn cười, nhớ nhiệt độ bàn tay hắn khi nắm lấy tay ta, nhớ câu nói hắn luôn treo bên miệng: “Ngày tốt đẹp rồi sẽ đến.”
Hắn đi rồi, nhưng ta và Thương Đồng vẫn còn sống.
Chúng ta quay lại thị trấn nhỏ, tiếp tục làm việc tích góp tiền, hẹn rằng đợi khi có đủ lộ phí, sẽ đến Giang Nam nhìn thay hắn một lần.
Nhưng nửa năm sau, Thương Đồng cũng bắt đầu ho, sốt.
Đại phu xem xét xong, chỉ lắc đầu: “Cùng chứng bệnh với huynh trưởng của nàng năm xưa.”
Khoảnh khắc ấy, trong lòng ta lại bình tĩnh đến lạ thường.
Ta nghĩ, cũng tốt.
Nếu Thương Đồng cũng không còn, ta sẽ cùng nàng ra đi.
Chúng ta xuống dưới đất, lại dựng lại gia đình của chúng ta.
Một mình sống trên đời này, ta không chống đỡ nổi.
Nhưng ông trời rốt cuộc vẫn cho ta một tia sinh cơ.
Khi ta khắp nơi cầu y, trong cơn mơ màng đã đâm vào xe ngựa của Hoắc Thời Nghiễn, ngã trước xe hắn.
Hắn vén rèm xe nhìn ta, ánh mắt khẽ động.
Mấy ngày sau, hắn tìm đến ta, đưa ra tờ khế ước ấy.
Hắn nói con trai hắn thiếu một người mẹ, hắn cần một nữ nhân an phận giúp hắn lo liệu hậu viện; hắn cũng sẽ thay ta mời danh y, giữ lại người ta để tâm.
Ta như người sắp c/h/ế/c đuối vớ được cành gỗ cuối cùng, ngay cả một câu thừa thãi cũng không hỏi đã gật đầu.
Thành thân với Hoắc Thời Nghiễn, ta không mời khách nào, cũng không qua lại với các quý phụ trong kinh thành.
Ngoài phố không ít lời ra tiếng vào, nói ta bất quá chỉ là cái bóng của một nữ nhân nào đó.
Ta nghe thấy, trong lòng không chút tức giận, ngược lại còn thấy may mắn.
Khuôn mặt ta nếu không có chút tác dụng nào, Hoắc Thời Nghiễn sao lại chọn ta?
Điều duy nhất ta giấu Thương Đồng, chính là cuộc hôn nhân này.
Sau đó nàng vẫn biết.
Nàng ôm ta khóc đến ngất đi, vừa tự trách vừa đau khổ, lặp đi lặp lại: “A Nhược, là chúng ta đã liên lụy ngươi.”
Ta ôm lấy vai nàng, nước mắt cũng không ngừng được: “A Đồng, ta đã mất A Hành rồi, không thể mất ngươi nữa.”
Đêm ấy chúng ta khóc thành một khối, hai người vỡ vụn dựa sát vào nhau sưởi ấm.
Trên đời này, chúng ta chỉ còn lại nhau.
Ba năm, tròn ba năm.
Vô số ngày đêm khó khăn, đủ mọi cách đều đã thử, bệnh của Thương Đồng cuối cùng cũng dần chuyển biến tốt.
Đại phu nói, sau này uống thuốc đúng giờ, cẩn thận điều dưỡng, sẽ không khác gì người thường.
Ta gần như đã nhìn thấy ánh bình minh.
Nhưng chớp mắt một cái, lại rơi vào đêm tối sâu hơn và đen hơn.
Sau khi Thương Đồng đi, ta phát sốt ba ngày trong trạch viện phía đông thành.
Khi tỉnh lại, người đã nằm trong phòng của Hoắc Thời Nghiễn.
Hắn nói mấy ngày đó ta sốt đến hôn mê bất tỉnh, bên cạnh không thể không có người chăm sóc, nên đã dời ta đến viện của hắn.
Ta khẽ nói lời cảm tạ.
Không ai nhắc lại đêm mưa ấy nữa.
Khi ta tựa đầu giường thẫn thờ, Hoắc Kiêu đến.
Khuôn mặt nhỏ của nó nhăn nhó, ấm ức đứng trước giường: “Mẹ, mẹ khỏi chưa?”
Ta cười cười: “Khá hơn nhiều rồi.”
“Hôm đó có dọa con sợ không?”
Nó lắc đầu, đứng đó không chịu đi.
Một lúc lâu, nó bỗng nắm lấy tay ta, vành mắt đỏ hoe: “Sau này mẹ có thể chỉ tốt với một mình con không?”
“Mẹ cứ mang bánh xốp cho mấy người ở tư thục, họ đều muốn giành mẹ làm mẹ của họ.”
“Nhưng con chỉ muốn mẹ làm mẹ của một mình con.”
Ta nhìn đứa trẻ nhỏ bé này, khẽ nói: “Nhưng ta phải đi đến một nơi rất xa rất xa rồi.”
“Ta không thể làm mẹ của con nữa.”
Hoắc Kiêu mím chặt môi, trong đôi mắt xinh đẹp đầy ắp nước mắt bướng bỉnh.
Rốt cuộc nó cũng không nói gì thêm, chỉ buồn bực “ừm” một tiếng.
Ai cũng nói kinh thành tốt.
Nhưng tòa thành này quá lớn, lớn đến mức ta đã đánh mất hai người ở đây.
Ta chỉ muốn rời đi.
Buổi chiều, Hoắc Thời Nghiễn lại đến một chuyến.
Hắn hỏi ta có thể ở lại thêm nửa năm không, nói Hoắc Kiêu còn nhỏ, đang rất cần người chăm sóc.
Ta lắc đầu.
“Vương gia, rốt cuộc cũng phải chia ly.”
“Người yên tâm, trước khi đi, ta sẽ viết rõ từng việc một về thói quen sinh hoạt của Hoắc Kiêu. Sau này người chăm sóc chỉ cần làm theo, sẽ không sai được.”
“Hoắc Thời Nghiễn, chúng ta hòa ly đi.”
“Ta muốn đi gặp A Hành.”
“Ta đã… quá lâu quá lâu rồi chưa gặp hắn.”
Ba năm trước, sau khi nhận tờ khế ước ấy, ta đã gửi tro cốt của Thương Hành ở một ngôi chùa ngoài thành.
Suốt ba năm, ta chưa từng dám bước vào cổng chùa một lần.
Ta đã gả làm vợ người khác, đến gặp hắn như vậy, e rằng hắn sẽ đau lòng.
Nhưng mỗi khi nhớ hắn đến phát điên, ta lại đi đến ngoài cổng chùa, nhìn từ xa một cái.
Nay, ta nên đi đón hắn rồi.
Ta muốn mang theo hắn, mang theo A Đồng, đến Giang Nam định cư, nơi hắn một lòng hướng tới.
Như chúng ta từng hứa với nhau.
Hoắc Thời Nghiễn thở dài một tiếng, lặng lẽ lấy ra một tờ hòa ly thư.
Ta ngay ngắn ký tên mình, khẽ cúi người với hắn: “Đêm đó, là ta nhận lầm người, xin lỗi.”
Hắn nhìn ta, giọng bình tĩnh như đêm ấy: “Ta và hắn, thật sự rất giống sao?”
Ta lắc đầu.
“Cái nhìn đầu tiên, cảm thấy đôi mắt có chút giống; nhìn thêm cái thứ hai, liền không giống chút nào nữa.”
“Hoắc Thời Nghiễn, ta chưa từng tìm bóng hình hắn nơi ngươi.”
“Ngươi không phải hắn, cũng không ai có thể làm hắn.”
A Hành của ta, như trăng giữa mây, lại như sao trên trời.
Hắn có đôi mắt trong sạch nhất thế gian.
Hắn là duy nhất.
Đêm trước ngày lên đường đi Giang Nam, Tô Tri Vi bỗng sai người mang thiếp đến, hẹn ta gặp mặt.
Đó là lần đầu tiên ta gặp nàng.
Nàng là một nữ tử cực kỳ rực rỡ, trong cử chỉ đều toát ra vẻ phong tình phóng khoáng.
Nói thật, ta không giống nàng chút nào.
Nàng có lẽ cũng nghĩ giống ta.
Vừa thấy ta, câu đầu tiên nàng đã cười: “Ai nói ngươi là thế thân của ta? Ta làm gì có vẻ dịu dàng đáng yêu như ngươi?”
Ta khựng lại một chút, rồi cũng cười.
Ta tưởng nàng muốn nói với ta về Hoắc Thời Nghiễn, bèn thẳng thắn nói cho nàng biết, ta và Hoắc Thời Nghiễn đã sớm hòa ly, trước kia cũng chỉ là một tờ khế ước.
Nàng xua tay: “Ta biết.”
“Hôm nay ta đến, chỉ là muốn gặp ngươi một chút.”
Nàng nhìn ta kỹ càng một lúc lâu, cảm thán: “Đáng tiếc thật.”
“Luận về tính tình, ngươi cùng Hoắc Thời Nghiễn quả thật xứng đôi; ta với hắn đều quá bướng bỉnh, ở cạnh nhau cứ va chạm mãi, tiêu hao bao nhiêu năm, đều mệt mỏi rồi.”
Ta không hiểu ẩn ý trong lời nàng.
Nàng bỗng lấy từ trong tay áo ra một chiếc hầu bao, đưa vào tay ta.
“Thương nương tử, nói ra ngươi đừng cười ta, hôm nay ta đến để cảm tạ.”
“Ta là kẻ ích kỷ, luôn muốn bay cao bay xa giữa trời rộng biển khơi, không thích bị nhà cửa con cái trói buộc tay chân.”
“Với Hoắc Kiêu, trong lòng ta vẫn luôn áy náy, ta không phải một người mẹ tròn bổn phận.”
“Nhưng mấy năm nay, ngươi đã nuôi dạy nó rất tốt. Lần trước ta dẫn nó du hồ, nó kể với ta không ít đạo lý ngươi dạy nó, ngoan lắm.”
“Ta rất vui mừng, cũng rất cảm kích.”
“Đây là chút tấm lòng của ta, coi như cảm tạ ân tình ngươi thay ta chăm sóc nó. Phụ thân nó làm tròn phần của người cha, phần này là lễ cảm tạ của ta, một người làm mẹ, xin ngươi nhất định nhận lấy.”
Cùng một công việc, ta lại nhận được hai phần thù lao.
Trong lòng có chút áy náy, trước khi rời đi, ta bèn đi mua cho Hoắc Kiêu một đống đồ chơi và đồ ăn mới lạ, lại viết cho nó mấy tờ chữ mẫu, để sau này nó tập viết theo.
Xe ngựa đi suốt hơn một tháng, cuối cùng ta cũng đến Giang Nam.
Vén rèm xe nhìn ra, mưa khói mờ ảo, sông ngòi kênh rạch ngang dọc, quả nhiên đúng là dáng vẻ mà A Hành đã miêu tả vô số lần.
Đường đá xanh trải dài từ đầu cầu đến tận ngõ, thuyền ô bồng chậm rãi lắc lư qua dưới gầm cầu.
A Hành xưa kia luôn nói, đợi khi tích góp đủ bạc, phải tìm một căn nhà có sân, trước cửa trồng hoa, sau nhà trồng trúc.
Rảnh rỗi thì ngồi dưới hiên uống trà ngắm mây.
Khi hắn nói những lời này, đôi mắt luôn sáng lấp lánh, như thể hình ảnh ấy đã được hắn vẽ đi vẽ lại trong lòng không biết bao nhiêu lần.
Nay, ta đã đến thay hắn.
Căn nhà này là do ta đã nhờ người xem sẵn từ trước.
Sân không lớn, hơn ở chỗ sạch sẽ ngăn nắp.
Trước sân để trống một khoảng đất bùn, vừa hay có thể trồng hoa.
Góc tường có một cây hòe già, cành lá sum suê, gió thổi qua liền xào xạc vang.
Ta đẩy cửa gỗ, ánh nắng buổi chiều từ trên đầu tường sân rót xuống, ấm áp trải khắp một khoảng.
Ta tháo chiếc tay nải sau lưng xuống.
Đặt hai chiếc hộp gỗ nhỏ ngay ngắn lên bàn thờ trong nhà chính.
“A Hành, A Đồng, về đến nhà rồi.”
Những ngày sau đó, ta gần như không có lúc nào được rảnh rỗi.
Ta lau rửa trong nhà ngoài nhà sáng loáng, lại ra chợ mua hạt giống hoa và cây giống rau về.
Khoảng đất trống trước sân được ta xới đất, rắc hạt hoa xuống.
Góc tường cấy mấy khóm hoa nhài.
Sau nhà lại dành ra một mảnh nhỏ trồng hành tỏi và rau xanh.
Khi mùa xuân bước vào lúc đậm nhất, trong đất trước sân đã nhú ra những mầm xanh non.
Ta bưng bát cháo ngồi dưới hiên, hai con mèo mướp nhỏ từ đầu tường nhà bên trèo sang, thăm dò lượn quanh bên chân ta.
Ta bẻ nửa miếng bánh ném cho chúng, chúng liền nằm lì trong cái sọt mây dưới hiên mà ngủ gật.
Trong vườn hoa, bông hoa đầu tiên đã nở, đỏ vừa đẹp.
Gió thổi qua, bông hoa liền run rẩy khẽ đung đưa.
Ta ngồi xổm bên cạnh nhìn rất lâu, dùng đầu ngón tay nhẹ nhàng chạm vào cánh hoa.
Rồi đứng dậy, phủi đất trên vạt váy, xoay người bước vào nhà.
Đi ngang bàn thờ, ta dừng lại một bước.
Ta đẩy vò rượu mơ mới ủ ở góc bàn vào chỗ râm mát, sợ nó bị nắng chiếu.
Cúi mắt xuống, ta khẽ cất lời:
“A Hành, A Đồng, hoa nở rồi.”
Gió từ cửa thổi vào, lá cây hòe già xào xạc, như ai đó đang cười, lại như ai đó đang đáp lời ta.
Ta cười cười, xoay người vào gian bếp nhóm lửa nấu cơm.
Ngày tháng rốt cuộc vẫn phải từng ngày từng ngày mà sống, cơm phải từng miếng từng miếng mà ăn.
Hoa sẽ từng đợt từng đợt nở, gió cũng sẽ từng cơn từng cơn thổi đến.
Chỉ cần có những ngày có gió, ta liền biết, rồi sẽ có ngày chúng ta gặp lại.
– Hết –
Posted inTruyện Ngắn