Tôi tên là Đường Chí Cương, ba mươi hai tuổi, đã làm bạn với ốc vít và dầu máy suốt mười lăm năm. Người trong khu phố đều gọi tôi là lão Đường. Tôi cao một mét tám ba, nặng hai trăm cân, từ xương mày trái kéo ngang đến gò má là một vết sẹo dài — do lần sửa phanh, chiếc cờ-lê tuột tay đập trúng. Cộng thêm khuôn mặt dữ dằn này, ai nhìn cũng tưởng tôi từng cầm dao đánh nhau trong ngõ.
Mùng tám tháng Chạp, gió lạnh có thể luồn thẳng vào tận kẽ xương.
Tôi sửa xong đơn hàng cuối cùng, chạy chiếc xe điện đã gần rệu rã rẽ vào khu nhà ổ chuột trong thành phố. Đèn đường trong con ngõ hỏng quá nửa, chỉ còn một bóng đèn chập chờn hấp hối.
Lúc đi ngang qua thùng rác, tôi liếc thấy một bóng đen đang ngồi xổm ở đó, cứ tưởng là con chó quê nhà ai chạy mất.
Đi được mấy mét, tôi bóp phanh.
Không đúng. Chó quê thì làm sao mặc đồng phục học sinh được.
Tôi quay đầu trở lại, tắt máy. Nhờ chút ánh sáng le lói, tôi nhìn rõ — một bé gái chừng bảy, tám tuổi đang lấy tay bới nửa phần mì xào đã đông cứng trong hộp cơm xốp. Mười đầu ngón tay lạnh cóng đỏ ửng, trông chẳng khác gì mười củ cà rốt nhỏ.
“Này.”
Tôi ngồi xổm xuống.
Con bé lập tức quay đầu, cả người co rúm lại sát vào thùng rác, giống như con mèo vừa bị giẫm phải đuôi. Khuôn mặt lấm lem, mái tóc xù lên như một ổ cỏ, nhưng đôi mắt lại sáng đến mức khác thường — không phải ánh sáng của sợ hãi, mà là sự dò xét, đề phòng, là vẻ bình tĩnh vốn không nên xuất hiện ở một đứa trẻ.
Đến lúc ấy tôi mới chợt nhận ra, mình còn trẻ, lúc làm việc thấy nóng nên đã cởi áo bông vứt lại trong tiệm. Giờ tôi để trần nửa người, toàn thân nồng nặc mùi dầu mỡ, vết sẹo bên trái dưới ánh đèn đường trông chẳng khác nào một con rết khổng lồ đang bò ngang mặt.
Tôi vội hạ giọng:
“Đói không?”
Con bé không nói gì.
“Đầu ngõ có một quán hoành thánh, nhân rau tề thái đấy. Ông chủ là người quen của chú, ngon lắm.”
Nó nhìn chằm chằm tôi suốt ba giây, rồi khẽ mấp máy môi:
“Chú là người tốt hay người xấu?”
Tôi bị hỏi đến ngây người.
“Chú… người tốt mà.”
“Được.”
Con bé đứng dậy, phủi bụi trên ống quần, dáng vẻ chẳng khác nào lãnh đạo vừa duyệt xong một văn kiện.
“Vậy đi thôi. Chú có mang tiền không? Cháu không có lấy một đồng đâu.”
Tôi: “…”
Ở quán hoành thánh, con bé một hơi ăn sạch hai tô lớn.
Ông chủ quán lão Quách nháy mắt với tôi:
“Lão Đường, con gái ông à?”
“Nhặt được bên thùng rác.”
“Ông nói chuyện đàng hoàng được hai câu không?”
Tôi chẳng buồn để ý đến ông ta.
Ăn xong, tôi chạy xe điện đưa con bé đến đồn công an.
Cảnh sát trực ban Ngô Hàm là người quen của tôi. Năm ngoái tôi từng sửa giúp anh ta một chiếc xe cảnh sát bị chết máy giữa đường.
“Con bé này tôi nhặt được bên thùng rác. Anh tra xem nhà ai làm mất con bé.”
Ngô Hàm ngồi xổm xuống hỏi nó vài câu.
Nó không khóc cũng chẳng làm loạn, rành rọt nói tên mình, trường học, lớp học, thậm chí cả số điện thoại của mẹ cũng đọc chính xác không sai một số.
Ngô Hàm gọi điện.
Đầu bên kia bắt máy rất nhanh.
“Xin chào, xin hỏi có phải chị Tần Nhược Mi không? Con gái chị…”
Đầu dây bên kia lập tức vang lên một tràng giọng nói the thé. Tôi đứng cách hai bước vẫn nghe rõ mồn một.
Ngô Hàm phải đưa điện thoại ra xa một chút, đợi bên kia chửi xong mới thấp giọng nói:
“Con gái chị hiện đang ở đồn công an… Ừm… Cái gì?”
Cúp máy, sắc mặt Ngô Hàm trở nên kỳ quặc.
“Cô ta nói đây là ‘giáo dục bằng nghịch cảnh’ của cô ta. Bảo con bé thành tích sa sút nên phải cho nó nhớ đời. Còn bảo chúng ta tự xem mà xử lý.”
Tôi cúi đầu nhìn con bé.
Nó ngồi trên ghế dài, hai chân nhỏ đung đưa giữa không trung, khuôn mặt non nớt căng cứng như một tờ giấy, không có lấy một chút biểu cảm.
Ngay khoảnh khắc ấy, lồng ngực tôi không biết bị thứ gì đập mạnh vào, nghẹn đến mức chẳng nói nên lời.
Ngô Hàm và mọi người lại gọi thêm một vòng điện thoại.
Bố nó?
Ly hôn ba năm trước, hiện đang ở nước ngoài, không liên lạc được.
Ông bà nội?
Ở quê, nói tuổi đã cao, không thể chăm sóc con bé.
Ông bà ngoại?
Nhìn sắc mặt Tần Nhược Mi mà xem. Nếu Tần Nhược Mi không lên tiếng, họ đến một câu cũng chẳng dám nói.
Đến cuộc điện thoại thứ tư, con bé lên tiếng.
“Đừng gọi nữa.”
Giọng nó không lớn, nhưng cả văn phòng lập tức im bặt.
Nó nhận lấy ống nghe từ chiếc bàn nhỏ, lần lượt nhấn nút hủy những số điện thoại đang được gọi.
“Cháu quen rồi.”
Nó nói nhẹ tênh, bình thản như thể đang kể hôm nay nhà ăn có món trứng xào.
Tôi đứng ở cửa, hai tay đút trong túi áo bông.
Trong túi là tiền công sửa xe tôi vừa kiếm được hôm nay, tám trăm hai mươi tệ.
Tôi quay người đi.
Đi được hơn chục bước, tôi lại đứng khựng lại.
Mẹ kiếp.
Tôi quay trở vào, ngồi xổm trước mặt con bé.
“Cháu tên gì?”
“Tần Tri Vi.”
“Từ giờ trở đi, cháu theo họ chú. Đường Tri Vi.”
Con bé sững người.
Đôi mắt từ nãy đến giờ vẫn vững vàng như quả cân kia bỗng phủ lên một tầng hơi nước.
“Được.”
Nó hít hít mũi, khóe môi khẽ động, nhưng không thể nở nổi nụ cười.
“Nhưng cháu có điều kiện.”
“Điều kiện gì?”
“Cháu phải kiểm tra gia cảnh của chú một lượt. Lúc nãy chú trả tiền hoành thánh, cháu nhìn thấy rồi. Tiền trong ví nhét lung tung, đến một tờ tiền nguyên vẹn cũng không có.”
Tôi nhìn Ngô Hàm.
Ngô Hàm nhún vai:
“Vừa rồi con bé còn lật qua tờ đăng ký ở phòng tạm giữ của chúng ta, nói định dạng ngày tháng không thống nhất, đề nghị chỉnh sửa.”
Tôi hít sâu một hơi.
Đêm đầu tiên tôi đưa Đường Tri Vi về nhà.
Căn phòng tôi thuê nằm sâu trong khu nhà ổ chuột, ở tầng một, một phòng ngủ một phòng khách, tổng cộng chỉ vỏn vẹn mười lăm mét vuông.
Trên tường vẫn còn dán những tờ báo cũ mà người thuê trước để lại. Cửa sổ bị gió lùa, tôi phải dùng băng keo dán chồng lên hai lớp.
Cô bé đứng ở cửa, im lặng suốt nửa phút.
“Lão Đường.”
“Ừ?”
“Chú chắc đây là chỗ con người có thể ở được chứ?”
“Có giường, có bàn, có mạng. Còn đòi hỏi gì nữa?”
Cô bé không đáp, bước vào trong đi một vòng.
Mở tủ lạnh — ba lon bia, hai quả dưa chuột đã héo và nửa cây xúc xích phủ đầy mốc.
Liếc xuống bếp — lớp dầu mỡ đóng dày đến mức có thể cạo thành từng mảng.
Cúi xuống gầm giường — hai đôi tất bốc mùi trộn lẫn với mấy chiếc quần thợ dính đầy dầu nhớt.
Cô bé lặng lẽ đóng cửa tủ lạnh lại.
“Lão Đường.”
“Lại gì nữa?”
“Chú sống được đến ba mươi hai tuổi đúng là một kỳ tích.”
Tối hôm đó, cô bé ôm điện thoại của tôi nghịch suốt một tiếng.
“Cháu làm gì đấy?”
“Làm phần mềm ghi chép chi tiêu. Hệ điều hành điện thoại của chú cũ quá, cháu sửa lại gói cài đặt rồi.”
Tôi tò mò ghé lại xem.
Không biết cô bé lục ở đâu ra mã nguồn của một công cụ ghi chép chi tiêu mã nguồn mở, rồi tự mình sửa giao diện.
“Cháu bao nhiêu tuổi?”
“Bảy tuổi.”
“Bảy tuổi mà biết viết code?”
“Cháu đọc được mấy cuốn sách trong thư viện.”
Cô bé đưa điện thoại cho tôi.
Trên màn hình là một giao diện ghi chép chi tiêu sạch sẽ đến mức đáng ngạc nhiên: tiền ăn, tiền thuê nhà, điện nước, đi lại, vật tư, tiết kiệm… Mỗi mục đều có một thanh tiến độ phần trăm phía sau.
“Từ ngày mai, mỗi khoản tiền chú tiêu đều phải ghi vào đây. Cuối tháng cháu kiểm tra sổ sách.”
“Dựa vào đâu chứ!”
“Dựa vào việc bây giờ cháu là con gái chú.”
Tôi há miệng, nhưng cuối cùng lại nuốt ngược lời định nói vào bụng.
Ngày thứ ba Đường Tri Vi đến nhà tôi, con bé đã xử đẹp ông Nghiêm hàng xóm.
Chuyện là thế này.
Tiệm sửa xe của tôi nằm trong một cái lán tôn, ngay góc đường chính của khu nhà ổ chuột. Điện được kéo từ siêu thị của ông Nghiêm bên cạnh, mỗi tháng tôi cứ xem công tơ rồi trả tiền điện cho ông ấy.
Hôm đó, ông Nghiêm cầm hóa đơn tiền điện sang, mặt mày tươi cười:
“Lão Đường, tiền điện tháng trước là hai trăm ba nhé.”
Tôi vừa định móc tiền ra, Đường Tri Vi đã thò đầu từ sau cuốn sổ lên:
“Ông ơi, cho cháu xem hóa đơn với.”
Ông Nghiêm khựng lại, đưa tờ hóa đơn cho con bé:
“Ồ, con gái ông à?”
“Nhặt được.”
Con bé liếc qua hóa đơn, rồi lấy ra một cuốn sổ cũ chỉ lớn bằng bàn tay.
Đó là cuốn sổ trước đây tôi dùng để ghi số công tơ điện, bìa đã cũ đến mức gần như sờn hết.
Con bé đối chiếu qua lại hai lần rồi lên tiếng:
“Ông ơi, tháng trước công tơ chạy ba trăm hai mươi số. Siêu thị của ông tính sáu hào một số điện. Ba trăm hai mươi nhân với không phẩy sáu là một trăm chín mươi hai tệ. Ông thu thừa ba mươi tám tệ.”
Nụ cười trên mặt ông Nghiêm cứng đờ.
“Còn nữa.”
Con bé lật sang một trang khác.
“Tháng trước nữa ông thu hai trăm năm mươi tệ. Dựa theo số điện này tính ngược lại, ông thu thừa chín mươi lăm tệ. Tháng trước nữa nữa thu thừa bảy mươi hai tệ. Ba tháng cộng lại, ông phải trả lại chúng cháu hai trăm linh năm tệ.”
Trong căn lán tôn im phăng phắc, chỉ nghe thấy tiếng gió luồn qua khe tường.
Nụ cười của ông Nghiêm hoàn toàn biến mất.
Ông ta nhìn con bé, rồi lại nhìn tôi. Môi run lên:
“Lão Đường, chuyện này…”
Tôi cũng ngơ ngác.
Từ trước đến giờ tôi chưa từng kiểm tra tiền điện. Ông Nghiêm nói bao nhiêu thì tôi trả bấy nhiêu.
“Ông ơi.”
Giọng con bé vẫn bình thản.
“Ông muốn trả tiền ngay bây giờ, hay để cháu đi cùng ông sang xem lại công tơ?”
Ông Nghiêm trả tiền.
Hai trăm linh năm tệ, ông ta đếm từng tờ một rồi đặt lên hộp dụng cụ của tôi.
Lúc bỏ đi, sắc mặt ông ta xanh mét.
Tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu, nhìn xấp tiền trên hộp dụng cụ, rồi lại nhìn con bé.
Nó cúi đầu tiếp tục viết, cứ như chẳng có chuyện gì xảy ra.
“Cháu… cháu biết chú có ghi số công tơ từ bao giờ vậy?”
“Mỗi trang trong cuốn sổ này đều có ngày tháng và con số. Nét chữ cũng giống hệt nét chữ chú ghi trên phiếu sửa xe. Nhìn thì lộn xộn, nhưng chưa bao giờ bị đứt quãng.”
Con bé ngẩng đầu lên, còn làm động tác đẩy chiếc kính tưởng tượng trên sống mũi.
“Từ giờ mỗi tuần cháu sẽ kiểm tra công tơ một lần, rồi lập thành bảng. Lão Đường, chú quen bị người ta bắt nạt rồi.”
Tôi im lặng rất lâu.
“Rốt cuộc cháu đã moi được bao nhiêu chuyện của chú rồi?”
“Không nhiều.”
Con bé lấy từ trong cặp ra một cuốn sổ khác rồi mở ra.
“Tháng trước chú hút thuốc hết bốn trăm năm mươi tệ, chiếm mười một phần trăm tổng chi tiêu. Vượt mức nghiêm trọng. Từ hôm nay, tiền thuốc lá do cháu quản.”
“Dựa vào—”
Con bé ngẩng đầu nhìn tôi.
“Dựa vào việc bây giờ cháu là con gái chú.”
Lần thứ hai, tôi bị đúng một câu này chặn họng đến mức chẳng biết nói gì.
Tối hôm đó, lần đầu tiên trong đời tôi chỉ hút đúng ba điếu thuốc.
Quy định con bé đặt ra là mỗi ngày năm điếu, nói rằng phải giảm từ từ, tuần đầu tiên chỉ là giai đoạn thích nghi.
Tôi, một người thợ sửa xe ba mươi hai tuổi, vậy mà bị một đứa trẻ bảy tuổi quản cho ngoan ngoãn nghe lời.
Thế nhưng nhìn hai trăm linh năm tệ đặt trên hộp dụng cụ, trong lòng tôi lại dâng lên một cảm giác rất khó diễn tả.
Hóa ra có người quản mình…
Cũng chẳng tệ đến thế.
Thứ Hai, Đường Tri Vi phải đi học.
Tôi chạy chiếc xe ba bánh cũ mua lại với giá tám trăm tệ đưa con bé đến trường.
Chiếc xe này do chính tay tôi sửa sang lại, vẫn chạy được, chỉ là mỗi lần nổ máy đều rung bần bật, khiến người ta ê cả chân răng. Phía sau còn có một chiếc thùng sắt bong tróc sơn.
Trường cách nhà hai con phố, là trường tiểu học công lập dành cho khu dân cư.
Trước cổng trường đậu kín một dãy ô tô. Chiếc tệ nhất cũng là Volkswagen, còn khá nhiều xe Audi, BMW.
Phụ huynh ăn mặc chỉnh tề như chuẩn bị đi họp, dắt con vào trường.
Tôi vừa chạy chiếc xe ba bánh đến, tiếng động cơ “phành phạch” một hồi, cả nửa con phố đều quay đầu nhìn.
Con bé ngồi trên chiếc ghế thấp ở thùng xe phía sau, mặt không chút biến sắc:
“Lão Đường, chú dừng ở góc đường phía trước đi.”
“Tại sao?”
“Vết sẹo của chú sẽ dọa mấy bạn nhỏ khóc.”
Tôi: “…”
Được thôi.
Tôi dừng xe cách cổng trường năm mươi mét, đứng nhìn con bé đeo cặp bước vào.
Đi được vài bước, nó quay đầu lại, vẫy tay với tôi.
Trong lòng tôi bỗng thấy ấm áp lạ thường.
**Lần đầu tiên họp phụ huynh.**
Tôi mặc chiếc quần bảo hộ lao động sạch nhất, thay một chiếc áo thun không thủng lỗ nào — dù trước ngực có in dòng chữ “Dầu nhớt Castrol”.
Đến cửa lớp, nhìn quanh một lượt, tôi nhận ra ánh mắt của các phụ huynh trong phòng có gì đó không được tự nhiên.
Cao một mét tám ba, nặng hai trăm cân, nửa khuôn mặt đầy sẹo, áo quảng cáo dầu nhớt, chân đi dép giải phóng.
Một bà mẹ trẻ theo bản năng kéo con mình lùi ra sau.
Một ông bố đeo kính ghé tai nói nhỏ gì đó với người bên cạnh. Người kia liếc tôi một cái rồi bật cười.
Tôi ngồi xuống góc cuối lớp, cố thu người lại hết mức có thể.
Cô giáo chủ nhiệm họ Hồ, khoảng hơn bốn mươi tuổi, tác phong nhanh nhẹn. Cô nói sơ qua tình hình của lớp trước, sau đó công bố thành tích bài kiểm tra Toán lần trước.
“Lần này, cả lớp chỉ có một bạn đạt điểm tuyệt đối.”
Các phụ huynh lập tức chăm chú lắng nghe.
“Học sinh Đường Tri Vi.”
Cả phòng học im lặng một thoáng.
“Ai vậy?”
“Chưa nghe tên bao giờ?”
“Học sinh mới chuyển đến à?”
Tôi từ từ giơ tay lên.
Tất cả mọi người đồng loạt quay đầu nhìn.
Cô Hồ sững ra một chút rồi mỉm cười:
“Anh là phụ huynh của em ấy?”
“Vâng, tôi là bố con bé.”
Ông bố đeo kính bên cạnh ghé sang, nhỏ giọng hỏi:
“Con ruột à?”
Tôi không thèm để ý đến ông ta.
Cô Hồ tiếp tục:
“Đường Tri Vi không chỉ đạt điểm tuyệt đối môn Toán, mà còn đứng đầu khối môn Tiếng Anh. Bài văn của em ấy còn được chọn tham gia cuộc thi cấp quận. Đứa trẻ này rất xuất sắc.”
Ông bố đeo kính lập tức im bặt.
Sau khi cuộc họp kết thúc, cô Hồ giữ tôi lại nói chuyện riêng.
“Anh Đường, Tri Vi rất thông minh, chỉ là…”
“Là sao?”
“Hôm nay, trước mặt cả lớp, em ấy đã sửa lại cách tôi trình bày một công thức.”
Tôi: “…”
“Em ấy nói đúng.”
Cô Hồ đưa tay day day thái dương.
“Tôi đã giảng lại công thức một lần nữa. Nhưng anh có thể nói với em ấy sau này nếu có vấn đề gì thì đợi đến giờ ra chơi rồi hãy nói được không?”
Tôi nhịn hồi lâu mới đáp:
“Con bé cũng đâu có nghe lời tôi.”
Ánh mắt cô Hồ nhìn tôi tràn đầy vẻ đồng cảm.
Về đến nhà, tôi nói với con bé:
“Sau này đừng sửa giáo viên ngay trước mặt cả lớp, như vậy không được hay lắm.”
Nó đang ngồi ghi chép sổ sách, đầu cũng chẳng buồn ngẩng lên:
“Cách suy luận của cô ấy vòng vèo quá. Cách của cháu ít hơn ba bước. Cháu chỉ đang giúp cô ấy nâng cao hiệu quả giảng dạy thôi.”
“Giáo viên không cần giữ thể diện à?”
Cuối cùng nó cũng ngẩng đầu lên, vẻ mặt nghiêm túc:
“Đúng là đúng, sai là sai. Sai mà không chịu thừa nhận mới gọi là mất mặt.”
Tôi phát hiện mình hoàn toàn không thể phản bác.
Ngay khoảnh khắc ấy, tôi nhận ra con bé này không chỉ thông minh mà tính tình cũng cứng đầu không kém.
Cứ như được đúc ra từ cùng một khuôn với tôi vậy.
Cứ thế, ngày tháng trôi qua từng ngày.
Sáng nào đúng sáu giờ, con bé cũng gõ cửa phòng tôi đúng giờ:
“Lão Đường, dậy đi, tập thể dục.”
Trước đây tôi chẳng bao giờ tập tành gì. Từ ngày nó đến, ngày nào nó cũng ép tôi vận động, không bỏ sót một hôm.
Có lần hàng xóm vừa mở cửa đã bắt gặp tôi đứng trước cửa tập thể dục theo nhạc. Cười đến đau cả bụng.
Bữa sáng thì tự nấu.
Nó lập hẳn một thực đơn rồi dán lên tủ lạnh: thứ Hai cháo kê ăn với trứng luộc, thứ Ba bánh mì nguyên cám kèm sữa, thứ Tư mì trứng cà chua…
Mỗi bữa không được tốn quá bốn tệ.
Lần đầu tiên tôi nấu mì, tôi để nồi cạn khô.
Khói bốc mù mịt, chuông báo khói kêu inh ỏi đến xé cả tai.
Con bé từ trong phòng lao ra, trèo lên ghế tắt bếp, mở cửa sổ cho khói bay bớt, rồi quay sang nhìn tôi với ánh mắt chẳng khác gì đang nhìn một người mất khả năng tự chăm sóc bản thân.
“Lão Đường, chú biết nước sôi trông thế nào không?”
“Biết.”
“Biết trong nồi không còn nước thì phải tắt bếp chứ?”
“Chú quên mất!”
Nó hít sâu một hơi, nhảy xuống khỏi ghế, lấy điện thoại ra ghi sổ:
“Tiền sửa nồi, dự kiến ba mươi tệ. Ghi chú: Lão Đường hết tiền trong não.”
Tôi: “…”
Ông Cung hàng xóm gõ cửa:
“Cháy nhà à? Có cần báo cảnh sát không?”
Con bé mở cửa, nghiêm túc cúi người:
“Cháu xin lỗi ông, bố cháu đang học nấu ăn. Không sao rồi ạ.”
Ông Cung thò đầu nhìn căn phòng đầy khói, lại nhìn khuôn mặt của tôi, vẻ mặt vô cùng phức tạp:
“Cháu gái, nếu không có cơm ăn thì trưa nay sang nhà ông, ông gói…”
“Cảm ơn ông, không cần đâu ạ. Chú ấy sẽ học được thôi. Cùng lắm là nhịn đói vài bữa.”
Lần đầu tiên tôi cảm thấy bị người ta chê bai đến tận cùng cũng là một loại phúc.
Buổi tối, Hầu Mãn Đồn đến chỗ tôi uống rượu.
Anh ta là người bạn duy nhất tôi thực sự thân thiết trong khu nhà ổ chuột, mở một cửa hàng kim khí.
Lúc anh ta đẩy cửa bước vào, tôi đang nằm bò trên bàn ghi sổ.
Con bé ngồi đối diện, ngón tay bấm máy tính lách cách:
“Tiền nhập hàng tám trăm ba, tiền thuê nhà một nghìn năm trăm, vật tư sáu trăm hai. Tháng trước tổng thu nhập thực tế là bốn nghìn hai, chi tiêu ba nghìn chín trăm tám, còn lại hai trăm hai.”
Hầu Mãn Đồn đứng ở cửa nhìn ba giây, sau đó quay người bỏ đi.
“Tính đi đâu đấy?”
“Tôi đi báo cảnh sát có người sử dụng lao động trẻ em.”
Tôi đuổi theo đá cho anh ta một cái.
Tối hôm đó, anh ta ngồi trong căn phòng trọ của tôi, nhìn con bé lập ngân sách cho tháng sau.
Không nhịn được, anh ta hỏi:
“Này nhóc, rốt cuộc cháu thích gì ở lão Đường vậy?”
Con bé chẳng buồn ngẩng đầu:
“Thích chú ấy ngốc.”
Hầu Mãn Đồn sững người một thoáng rồi cười đến mức vỗ đùi:
“Nghe chưa, lão Đường? Con gái ông bảo ông ngốc kìa!”
Tôi cũng bật cười.
Nhưng câu tiếp theo của con bé khiến tôi không cười nổi nữa.
“Người ngốc sẽ không tính kế cháu.”
Nó khép sổ lại, giọng rất khẽ:
“Người mẹ trước đây của cháu rất thông minh. Thông minh đến mức có thể bỏ mặc chính con gái mình giữa đường cao tốc.”
Căn phòng lập tức chìm vào im lặng.
Hầu Mãn Đồn cầm ly rượu lên uống cạn.
Tôi đi tới, dập tắt điếu thuốc.
Lúc tiễn anh ta ra cửa, anh ta vỗ vai tôi:
“Lão Đường, việc đáng giá nhất đời ông chính là tối hôm đó đã dừng xe lại.”
Tôi quay đầu nhìn vào trong phòng.
Con bé đang kiễng chân rót nước nóng vào phích, miệng còn lẩm bẩm rằng uống nước lạnh không tốt cho dạ dày.
“Ừ.”
Tôi nói.
“Là việc đáng giá nhất.”
Những ngày tháng yên bình ấy chưa kéo dài được đến hai tháng.
Chiều hôm đó, tôi đang cúi người thay má phanh cho một chiếc Jetta, hai tay dính đầy dầu mỡ.
Một chiếc Mercedes màu đen dừng trước cửa tiệm.
Thứ đầu tiên xuất hiện là một đôi giày cao gót.
Gót nhọn, đế đỏ, giẫm lên nền đường lồi lõm trước cửa tiệm của tôi mà trông như được dát thêm một lớp vàng.
Tần Nhược Mi bước xuống xe.
Tóc cô ta búi gọn không một sợi rối, khoác áo trench coat màu be, lớp trang điểm tinh tế như bước ra từ trang bìa tạp chí.
Cô ta tháo kính râm, nhìn từ trên xuống dưới cái lán sửa xe lộng gió của tôi, ánh mắt chẳng khác nào đang nhìn một đống rác.
Đường Tri Vi đang làm bài tập bên trong.
Qua cửa sổ, nó nhìn thấy người đến, cây bút trong tay lập tức dừng lại.
“Tri Vi.”
Tần Nhược Mi lên tiếng, giọng không lạnh không nóng:
“Mẹ đến đón con về nhà.”
Tôi từ từ đặt chiếc cờ lê xuống.
“Anh Đường phải không?”
Cô ta gật đầu với tôi, khóe môi nở nụ cười, nhưng ý cười chẳng hề chạm đến đáy mắt.
“Cảm ơn anh đã chăm sóc con gái tôi trong thời gian qua. Tiền bồi thường chắc chắn sẽ không thiếu.”
Cô ta lấy từ trong túi ra một quyển sổ séc.
“Nói giá đi. Bao nhiêu thì anh chịu trả con bé lại cho tôi?”
Tôi đứng thẳng người.
Với thân hình hai trăm cân, tôi cao hơn cô ta hẳn một cái đầu.
“Cô Tần, lúc cô bỏ con bé bên thùng rác, cô có từng nghĩ nó là con gái mình không?”
Đầu bút của Tần Nhược Mi khựng lại.
Sắc mặt cô ta thay đổi trong thoáng chốc, rồi rất nhanh trở lại bình thường:
“Anh Đường, đây là chuyện gia đình tôi. Tôi là mẹ đơn thân, công việc bận rộn, phương pháp giáo dục có thể không phù hợp. Nhưng điều đó không có nghĩa anh có quyền chiếm giữ con gái tôi.”
“Chiếm giữ?”
Tôi bật cười.
“Hôm cô bỏ con bé đi, chính cảnh sát giao nó cho tôi. Hay là chúng ta cùng ra tòa nói chuyện?”
“Đừng nói pháp luật với tôi.”
Cô ta cất sổ séc, giọng lập tức lạnh xuống.
“Tôi thuê được luật sư giỏi nhất. Một tháng anh kiếm được bao nhiêu? Bốn nghìn hay năm nghìn? Dựa vào đâu mà tòa án lại giao con bé cho anh?”
Hai chúng tôi nhìn nhau chằm chằm, không khí căng thẳng đến mức như sắp tóe lửa.
Đúng lúc ấy, trong nhà truyền ra một giọng nói:
“Khoan đã.”
Đường Tri Vi thò đầu ra từ sau cuốn sổ, đẩy gọng kính, vẻ mặt bình tĩnh đến mức chẳng giống một đứa trẻ bảy tuổi.
“Mẹ.”
Nó lên tiếng.
Ánh mắt Tần Nhược Mi lập tức dịu xuống đôi chút:
“Tri Vi, về nhà với mẹ—”
“Đừng gọi cháu là Tri Vi.”
Nó ngắt lời.
“Cháu tên là Đường Tri Vi. Không còn liên quan gì đến mẹ nữa.”
Nụ cười trên môi Tần Nhược Mi đông cứng.
Đường Tri Vi bước ra khỏi phòng, trong tay ôm một cuốn sổ dày cộp ngay ngắn — không phải vở bài tập, mà là sổ ghi chép chi tiêu của nó.
Nó đứng bên cạnh tôi, ngẩng đầu nhìn Tần Nhược Mi:
“Mẹ muốn đưa cháu đi? Vậy trước tiên cháu hỏi mẹ một chuyện.”
Tần Nhược Mi không nói gì.
“Trong tờ khai thuế giá trị gia tăng quý ba năm ngoái của công ty mẹ, có phải mẹ đã bỏ sót một khoản doanh thu không?”
Không khí như bị rút sạch.
Sắc mặt Tần Nhược Mi lập tức trắng bệch.
Gió luồn qua những khe hở trên vách tôn, khiến mấy chiếc lốp cũ treo ở góc tường đung đưa qua lại.
Tần Nhược Mi đứng bất động tại chỗ, những ngón tay đang siết chiếc kính râm hơi run lên.
“Cháu nói gì?”
“Công ty của mẹ.”
Đường Tri Vi mở sổ, giọng đều đều như đang đọc bài.
“Từ tháng Bảy đến tháng Chín năm ngoái, dòng tiền vào tài khoản công ty là mười ba triệu tệ. Nhưng doanh thu mẹ kê khai chỉ có bốn triệu hai trăm nghìn. Chênh lệch tám triệu tám trăm nghìn.”
“Dựa theo thuế suất VAT, mẹ đã nộp thiếu tám trăm bảy mươi nghìn tệ.”
Tôi nhìn chằm chằm vào sau đầu con bé.
Con bé đã điều tra chuyện này từ bao giờ vậy?
“Còn nữa.”
Nó lật sang một trang khác.
“Năm nay mẹ đã hạch toán hai khoản lợi nhuận thành khoản vay của cổ đông, treo trên tài khoản công nợ nội bộ, đến giờ vẫn chưa thể quyết toán. Kế toán công ty mẹ hoặc là nghiệp vụ quá kém, hoặc là đã làm theo ý mẹ.”
Sắc mặt Tần Nhược Mi từ trắng bệch chuyển sang xanh xám.
“Cháu nói bậy!”
“Cháu không nói bậy.”
Cuối cùng Đường Tri Vi cũng ngẩng đầu lên, ánh mắt bình tĩnh đến đáng sợ.
“Tháng trước mẹ mời mấy chú bên cục thuế đến nhà hàng Oasis International dùng bữa. Ba chai rượu vang, một bữa hết mười ba nghìn tệ. Hóa đơn vẫn còn trong túi của mẹ — chính là cái túi mẹ đang đeo.”
“Trên hóa đơn lại ghi là ‘đồ dùng văn phòng’.”
Tần Nhược Mi theo bản năng lập tức đưa tay bịt miệng túi.
“Cháu… cháu biết bằng cách nào?”
“Lúc nãy mẹ lấy sổ séc ra, góc hóa đơn đã lộ ra.”
Đường Tri Vi đẩy gọng kính.
“Trên hóa đơn ghi ngày mười bảy, tên khách sạn cũng in ngay trên đó. Mười ba nghìn tệ mà ghi là ‘đồ dùng văn phòng’… Mẹ à, công ty mẹ dùng loại bút gì mà đắt đến thế?”
Tôi suýt không nhịn được cười.
Tần Nhược Mi lùi lại một bước.
Cuối cùng, vẻ hoảng loạn cũng lộ ra dưới gương mặt được trang điểm tinh tế kia.
Cô ta nhìn con bé, rồi lại nhìn tôi. Môi run lên hồi lâu mà không nói nổi một câu hoàn chỉnh.
Gót giày cao gót cọ trên vệt dầu dưới đất, phát ra tiếng ken két chói tai, để lại một đường trắng rõ mồn một.
“Vậy…”
Đường Tri Vi khép sổ lại.
“Mẹ định thuê luật sư giỏi nhất để giành quyền nuôi cháu?”
“—”
“Cứ thử đi.”
Giọng con bé rất nhẹ, nhưng từng lời lại chẳng khác nào những chiếc đinh đóng xuống.
“Nhưng trước khi ra tòa, cháu sẽ photo cuốn sổ này thành mười bản. Một bản gửi cục thuế, một bản gửi cơ quan quản lý doanh nghiệp, những bản còn lại gửi cho các nhà đầu tư của công ty mẹ.”
“Đoán xem… người sụp đổ trước sẽ là lão Đường hay là mẹ?”
Căn lán tôn im lặng suốt mười giây.
Tần Nhược Mi đứng đó, mái tóc được búi tỉ mỉ đã bị gió thổi rối mất hai lọn, buông xuống khóe mắt.
Cô ta nhìn tôi, ánh mắt đã thay đổi.
Không còn vẻ khinh thường, dò xét từ trên cao xuống như lúc đầu.
Mà là một thứ cảm xúc khác.
Không cam lòng.
Và cả một chút sợ hãi.
“Được.”
Cô ta đeo kính râm lên, xoay người mở cửa xe.
“Các người cứ chờ đó.”
Chiếc Mercedes khởi động, bánh xe cán qua vũng nước, bắn lên một dải bùn đất.
Đường Tri Vi đứng yên tại chỗ, nhìn theo chiếc xe khuất khỏi đầu ngõ.
Sau đó, nó quay vào nhà, cầm bút lên tiếp tục viết.
“Lão Đường.”
“Ừ?”
“Hôm nay lúc thay má phanh, chú làm tuột tua vít đập vào chân. Dầu xoa bóp năm tệ, cháu đã ghi vào khoản vật tư rồi.”
Tôi: “…”
Tôi bước tới, ngồi xuống đối diện con bé.
“Chuyện trong cuốn sổ đó, cháu điều tra từ bao giờ?”
“Sau khi chú ngủ.”
Nó đáp tỉnh bơ.
“Dùng Wi-Fi nhà chú để tra. Mạng nhà chú chậm quá, cháu phải mất hai tuần.”
“Vậy sao không nói với chú?”
“Nói rồi chú chắc chắn sẽ ngăn.”
Cuối cùng nó cũng ngẩng đầu lên.
Trong đôi mắt ấy có một thứ mà tôi không thể hiểu được.
“Lão Đường, chú là người tốt.”
Nó dừng lại một chút.
“Nhưng người tốt rất dễ bị người khác bắt nạt.”
Cổ họng tôi nghẹn lại.
“Cháu không muốn có ai bắt nạt chú.”
Khoảnh khắc ấy, trước mặt một đứa bé mới bảy tuổi, tôi chẳng thể nói nổi một lời.
Tần Nhược Mi vẫn chưa chịu dừng lại.
Một tuần sau, giấy triệu tập của tòa được gửi đến.
Cô ta kiện tôi tội tự ý chiếm giữ quyền giám hộ, yêu cầu tòa giao con gái lại cho cô ta.
Lần này cô ta đổi cách.
Không nói về tiền nữa, mà nói về tình cảm.
Tại phiên tòa, cô ta kể rằng khi trước vì áp lực công việc quá lớn nên nhất thời mất kiểm soát cảm xúc. Bây giờ cô ta đã đi tư vấn tâm lý, sẵn sàng cho con những điều kiện giáo dục tốt nhất.
Cô ta còn đưa ra một xấp tài liệu: thư thông báo trúng tuyển của trường quốc tế, thư giới thiệu của giáo viên piano, cùng một bức ảnh phòng ngủ trẻ em được trang trí vô cùng sang trọng.
Luật sư của cô ta nói tại tòa:
“Ông Đường Chí Cương có thu nhập khoảng bốn nghìn tệ một tháng, sống trong một khu nhà ổ chuột, điều kiện sinh hoạt tồi tệ. Với hoàn cảnh như vậy, làm sao ông ấy có thể đảm bảo sự phát triển của một đứa trẻ thiên tài?”
Ánh mắt của tất cả mọi người trong phòng xử đều đổ dồn về phía tôi.
Quần bảo hộ lao động, dép giải phóng, dầu máy bám sâu trong kẽ móng tay đến mức rửa mãi cũng không sạch.
Tôi siết chặt nắm tay.
Nhưng còn chưa kịp lên tiếng, Đường Tri Vi đã đứng dậy từ hàng ghế dành cho người dự thính.
“Chú thẩm phán, cháu có thể nói vài câu được không ạ?”
Vị thẩm phán sững người một thoáng rồi gật đầu.
Con bé lấy từ trong cặp ra một tập hồ sơ, bước ra giữa phòng xử.
Nó chỉ cao vừa đủ chạm tới mép bàn, phải kiễng chân mới đặt được tập hồ sơ lên trên.
“Đây là 《Kế hoạch phát triển gia đình trong năm năm》 của cháu và lão Đường.”
“Cái gì?”
“Kế hoạch học tập của cháu, kế hoạch mở rộng tiệm sửa xe của lão Đường, mục tiêu tiết kiệm trong năm năm tới, cùng bảng phân bổ ngân sách theo từng tháng.”
Cả phòng xử im phăng phắc, chỉ còn nghe thấy tiếng đèn treo khẽ rung.
Ngay cả luật sư phía đối phương cũng quên mất phải tiếp lời.
Con bé lại lấy ra một trang khác:
“Đây là khoản thu nhập thực tế hàng tháng của lão Đường mà cháu tính toán được — không phải mức lương dùng để khai thuế.”
“Lợi nhuận trung bình mỗi tháng của tiệm trong năm ngoái là tám nghìn hai trăm tệ. Trước đây chú ấy chỉ khai bốn nghìn, vì phần lớn tiền thu được bằng tiền mặt nên không ghi chép.”
Tôi: “…”
Con bé này đến cả chút tiền riêng tôi giấu cũng moi ra được rồi sao?
“Khoản thu nhập này đã được bổ sung thuế đầy đủ.”
Nó lấy ra một tờ giấy chứng nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế.
“Tuần trước lão Đường đã đến nộp bổ sung. Không chỉ nộp trong thời hạn truy thu theo quy định mà còn tự nguyện nộp thêm cả phần của một năm trước đó. Người bên cơ quan thuế nói đây là lần đầu họ gặp người chủ động như vậy.”
Vị thẩm phán nhận lấy giấy tờ, nhìn một lượt rồi lại nhìn tôi.
Ánh mắt ông ấy có phần phức tạp.
“Cuối cùng…”
Con bé nói:
“Cháu muốn hỏi cô Tần Nhược Mi một câu.”
Nó quay sang nhìn người phụ nữ ăn mặc tinh tế ở hàng ghế dự thính.
“Cô nói cô muốn cho cháu một nền giáo dục tốt hơn. Nhưng chương trình học của trường quốc tế, năm ngoái cháu đã tự học xong trên mạng rồi. Còn những thứ giáo viên piano dạy, cháu cũng đã học được phần lớn qua các video trong thư viện.”
“Cô nói cô đã chuẩn bị sẵn một phòng ngủ cho trẻ em.”
“Nhưng căn phòng trong ảnh không có cửa sổ.”
Sắc mặt Tần Nhược Mi thay đổi.
“Đó không phải là nhà.”
Đường Tri Vi nói.
“Đó là một cái lồng đẹp.”
Nó quay trở lại bên cạnh tôi, nắm lấy tay tôi.
Bàn tay nhỏ xíu, mang theo chút lạnh giá.
“Tiệm sửa xe của lão Đường có cửa sổ, có món tỏi ngâm mà ông Nghiêm hàng xóm cho, có chú Mãn Đồn thỉnh thoảng lại xách dưa hấu đến.”
“Tường là vách tôn, mùa đông thì gió lùa, mùa hè thì nóng bức.”
“Nhưng đó là nhà.”
Nó nhìn vị thẩm phán.
“Cháu không muốn đổi sang một cái lồng đẹp hơn. Cháu chỉ muốn ở lại đây.”
Chiếc búa thẩm phán không hề hạ xuống.
Ông tháo kính, lau qua một lượt rồi nói:
“Phiên tòa tạm nghỉ. Ngày tuyên án sẽ được thông báo sau.”
Lúc bước ra khỏi tòa án, mặt trời đã gần chạm nóc những tòa nhà.
Con bé kéo góc áo tôi đi được một đoạn thì đột nhiên dừng lại.
“Lão Đường.”
“Ừ?”
“Lúc nãy cháu thể hiện có tốt không?”
Tôi ngồi xổm xuống.
Trên trán con bé lấm tấm mồ hôi, môi hơi tái.
Khí thế mạnh mẽ trên tòa vừa rồi đã biến mất sạch, chỉ còn lại đôi mắt long lanh đang chờ tôi khen.
“Giỏi.”
Giọng tôi khàn đặc.
“Giỏi lắm.”
Nó cười.
Khuôn mặt nhỏ ngày nào cũng căng lên như dây đàn cuối cùng cũng nở nụ cười đúng với lứa tuổi bảy.
Mấy ngày chờ tuyên án, con bé vẫn đi học như thường, làm bài tập như thường, kiểm tra sổ sách của tôi như thường.
Ngay cả khi tôi mua thêm hai tệ tiền nước ngọt, nó cũng đánh dấu đỏ, in đậm.
Nhưng tôi lại không ngủ được.
Cả đêm cứ trằn trọc trên giường, sợ tòa thật sự phán con bé phải rời khỏi tôi.
Nếu căn lán tồi tàn này không còn tiếng bước chân lạch bạch của nó nữa, chắc tôi phát điên mất.
Đêm ngày thứ ba, tôi lại mất ngủ.
Bỗng nhiên, tôi nghe thấy tiếng động từ căn phòng bên cạnh.
Phòng của con bé được ngăn ra từ phòng khách bằng một tấm vách ngăn, chỉ vừa đủ kê một chiếc giường nhỏ và một cái bàn.
Cái bàn là tôi tự hàn bằng những miếng sắt phế liệu, các góc đều được quấn mấy lớp băng keo để tránh bị thương.
Tôi nhìn qua khe vách.
Con bé vẫn chưa ngủ.
Trên bàn đặt một cuốn sổ — không phải cuốn sổ ghi chép chi tiêu thường ngày, mà là một cuốn cũ hơn nhiều, bìa đã mòn đến bạc trắng.
Nó lật đến một trang, dựa vào ánh đèn bàn rồi cúi đầu viết.
Viết được một lúc, nó đưa tay lên lau mặt.
Con bé đang khóc.
Một đứa trẻ bảy tuổi, nửa đêm trốn trong phòng lén khóc.
Tôi đẩy cửa bước vào. Con bé giật mình, lập tức “A” một tiếng gập cuốn sổ lại, ra sức dụi mắt:
“Cháu không khóc! Mắt cháu bị bụi bay vào thôi!”
Tôi không vạch trần nó. Kéo một chiếc ghế ngồi xuống bên cạnh, tôi hỏi:
“Trong sổ viết gì vậy?”
Nó do dự một lúc rồi đẩy cuốn sổ sang cho tôi.
Đó không phải sổ ghi chép.
Mà là nhật ký.
Mở đến trang đó, tôi nhìn thấy dòng chữ:
“Hôm nay thẩm phán hỏi cháu, nếu mẹ thật sự thay đổi rồi, cháu có muốn quay về không. Cháu nói không muốn. Có phải cháu quá nhẫn tâm không?”
Bên cạnh còn vẽ một bảng so sánh.
Bên trái: **“Ở lại nhà lão Đường”**: tường tôn bị gió lùa, cơm khó ăn, ngồi xe máy xóc muốn chết.
Bên phải: **“Về nhà mẹ”**: phòng đẹp, trường học tốt, ăn ngon mặc đẹp.
Con bé đánh một dấu X đỏ thật to bên phía bên phải.
Bên dưới còn thêm một dòng chữ nhỏ:
**“Nhưng ở đó không có lão Đường.”**
Tôi nhìn chằm chằm dòng chữ ấy rất lâu.
“Khóc gì chứ.”
Tôi đẩy cuốn sổ lại cho nó, giọng trầm xuống.
“Sau này còn phải quản sổ sách cho lão Đường nữa.”
“Cháu không khóc.”
Nó vẫn cố cãi, nhưng nước mắt lại chẳng nghe lời, cứ thế lăn xuống. Cả người nó co ro, run lên.
“Cháu chỉ là… chỉ là sợ thôi.”
“Sợ gì?”
Nó ngẩng đầu nhìn tôi.
Khuôn mặt nhỏ lúc nào cũng điềm tĩnh ấy cuối cùng cũng hoàn toàn sụp đổ.
“Sợ tòa phán cháu phải về với mẹ.”
“Sợ sau này không được gặp chú nữa.”
“Sợ chú không có ai quản, bữa nào cũng ăn mì gói, hút thuốc ngày càng nhiều.”
“Sợ chú ở đây một mình, đến người nói chuyện cũng không có…”
Tôi lập tức kéo con bé vào lòng.
Con bé gầy đến mức chẳng khác gì một cành củi khô, xương vai cấn vào ngực khiến tôi đau nhói.
“Không phải sợ.”
Tôi nói.
“Lão Đường sẽ không để bất kỳ ai đưa cháu đi. Ai đến cũng không được.”
Nó túm chặt lấy vạt áo tôi, khóc rất lâu, rất lâu.
Sau đó khóc mệt rồi, nó ngủ thiếp đi trong lòng tôi.
Tôi đặt con bé trở lại giường, đắp chăn cẩn thận, nhìn khuôn mặt lem luốc nước mắt ấy.
Rồi tôi cầm cuốn nhật ký lên, lật đến trang cuối cùng.
Tôi viết xiêu xiêu vẹo vẹo một dòng:
**“Lão Đường cũng sợ. Nhưng lão Đường vẫn luôn ở đây.”**
Ngày tuyên án, bầu trời âm u, mây đen như sắp đè xuống nóc nhà.
Tôi và con bé đứng trước cửa tòa án.
Nó nắm chặt góc áo tôi, còn tôi ưỡn thẳng lưng.
Hầu Mãn Đồn cũng đến, mặc một chiếc sơ mi nhăn nhúm, cổ áo còn lệch sang một bên.
Ông Nghiêm xách theo chiếc bình giữ nhiệt, đứng bên cạnh mà không nói tiếng nào.
Thẩm phán tuyên bố:
**Đường Chí Cương thắng kiện, chính thức giành được quyền giám hộ Đường Tri Vi.**
Có ba lý do.
Thứ nhất, việc Tần Nhược Mi bỏ mặc con là sự thật, đã cấu thành hành vi từ bỏ quyền giám hộ.
Thứ hai, nguyện vọng của Đường Tri Vi rõ ràng, ổn định và có lý do đầy đủ.
Thứ ba, điều kiện kinh tế của Đường Chí Cương tuy có hạn, nhưng anh đã mang đến cho đứa trẻ một môi trường sống ổn định và lành mạnh.
Những điều này được chứng minh bằng giấy chứng nhận nộp thuế, kế hoạch phát triển gia đình, thành tích học tập ở trường cùng lời xác nhận có chữ ký của hàng xóm.
**Hàng xóm cùng ký tên.**
Tôi quay đầu nhìn ông Nghiêm.
Ông đang vặn nắp bình giữ nhiệt, giả vờ ngắm trời.
Hầu Mãn Đồn đỏ hoe mắt, ra sức vỗ vai tôi:
“Thấy chưa? Tòa án vẫn còn có mắt đấy!”
Tần Nhược Mi đứng ở phía bên kia.
Hôm nay cô ta không trang điểm.
Chiếc áo khoác màu be vẫn là chiếc áo hôm trước, nhưng cả người dường như thấp đi một đoạn.
Cô ta nhìn con bé một cái, môi khẽ động đậy, cuối cùng chẳng nói gì, xoay người bước lên chiếc Mercedes.
Đèn hậu chậm rãi biến mất ở cuối con phố.
Con bé ngẩng đầu nhìn tôi.
“Lão Đường, chúng ta thắng rồi à?”
“Thắng rồi.”
Nó gật đầu, vẻ mặt vẫn bình thản như thường.
Sau đó kéo góc áo tôi:
“Vậy đi thôi. Hôm nay cuối tháng phải tổng kết sổ sách, doanh thu của tiệm vẫn chưa đối chiếu xong.”
Tôi: “…”
Phía sau, Hầu Mãn Đồn cười đến mức đập cả đùi.
Về đến tiệm, con bé mở sổ ra làm việc.
Tôi ngồi xổm bên cạnh sửa bộ ly hợp của một chiếc xe tải nhỏ, hai tay đầy dầu nhớt.
Cửa tiệm đột nhiên bị đẩy ra.
Tần Nhược Mi đứng ở cửa.
Cô ta đã biến thành một bộ dạng hoàn toàn khác.
Tóc xõa rối, mí mắt sưng đỏ, cúc áo khoác còn chưa cài ngay ngắn.
Cô ta đứng bên cửa, không dám bước vào.
“Tôi… tôi không đến để giành người.”
Cô ta lấy từ trong túi ra một chiếc phong bì giấy kraft, đặt lên hộp dụng cụ.
“Đây là toàn bộ tài liệu tài chính của công ty trong ba năm. Con bé muốn tố cáo tôi trốn thuế, được thôi. Tôi nộp bổ sung. Phạt bao nhiêu, tôi nhận.”
Giọng cô ta run lên.
Cô ta nhìn Đường Tri Vi:
“Tôi chỉ muốn hỏi Tri Vi một câu.”
Nước mắt lăn xuống khuôn mặt vốn tinh tế, làm nhòe cả lớp phấn nền.
“Tri Vi, mẹ biết sai rồi.”
“Sau này… mỗi tháng cho mẹ gặp con một lần được không? Chỉ một lần thôi.”
Trong căn phòng im lặng hồi lâu.
Đường Tri Vi đặt bút xuống.
“Được.”
Mắt Tần Nhược Mi lập tức sáng lên.
“Nhưng cháu có điều kiện.”
Con bé bước tới, ngẩng đầu nhìn Tần Nhược Mi.
“Mỗi lần gặp cháu, mẹ đều phải đến nhà lão Đường.”
“Ngày mẹ đến, mẹ phải nấu cơm cho lão Đường.”
“Chú ấy nấu dở quá, cháu sửa mãi mà không nổi.”
Tần Nhược Mi sững người.
Sau đó cô ta ngồi xổm xuống, ôm chầm lấy con bé ngay giữa nền nhà đầy dầu mỡ, khóc đến mức thở không ra hơi.
“Được… được…”
Tôi đứng bên cạnh, tay vẫn cầm chiếc cờ lê, đầu óc trống rỗng.
Mới vừa rồi còn căng thẳng như sắp đánh nhau đến nơi, sao chớp mắt một cái đã biến thành chuyện nấu cơm rồi?
Con bé còn nháy mắt ra hiệu với tôi:
“Lão Đường, tối nay ăn sườn xào đỏ nhé. Trước đây mẹ cháu từng học nấu món này.”
Nói xong, nó đi thẳng vào trong.
Để lại tôi và Tần Nhược Mi đứng nhìn nhau.
Cô ta đứng dậy, lau nước mắt, nhìn tôi một cái.
Trong mắt cô ta đã chẳng còn chút kiêu ngạo nào, chỉ còn lại một mớ hỗn độn.
“Anh Đường, cảm—”
Tôi khoát tay.
“Nồi ở trên bếp, gạo ở trong tủ. Nấu cơm trước đi.”
Nói xong, tôi chui trở lại gầm xe.
Từ đó về sau, tiệm sửa xe có thêm một quy định bất thành văn:
**Cuối tuần cuối cùng mỗi tháng, Tần Nhược Mi sẽ đến nấu cơm.**
Lần đầu đến, cô ta đeo tạp dề, đứng trước bếp luống cuống đến mức không biết phải làm gì, vặn mãi van gas mà chẳng bật được.
Con bé đứng trên chiếc ghế nhỏ, kiên nhẫn chỉ cho cô ta:
“Mẹ, trước tiên vặn van, sau đó ấn nút đánh lửa. Đúng rồi, đừng sợ, không nổ đâu.”
Tay Tần Nhược Mi run như cầy sấy.
Tôi ở cửa sửa xe, tai dựng lên nghe ngóng.
Ông Nghiêm đi ngang qua lúc đang tản bộ, tò mò thò đầu vào nhìn:
“Lão Đường, nhà cậu làm sao thế? Có thêm người nấu cơm à?”
“Bớt hỏi đi.”
Ông Nghiêm cười hề hề, xách bình giữ nhiệt đi mất.
Bữa cơm hôm đó làm thành một mớ hỗn độn.
Sườn cháy khét, cơm còn sống, canh mặn đến mức người bán muối cũng phải chịu thua.
Nhưng con bé ăn vô cùng nghiêm túc.
Một đĩa sườn cháy, nó ăn hơn nửa, còn xếp xương ngay ngắn sang một bên:
“Vẫn ngon hơn lần đầu lão Đường nấu.”
“Cách cháu khen người khác đúng là độc đáo thật.”
Tần Nhược Mi ngồi đối diện, gần như chẳng ăn gì, chỉ chăm chú nhìn con bé.
Nhìn hạt cơm dính nơi khóe miệng nó.
Nhìn bàn tay cầm đũa.
Nhìn dáng vẻ hoàn toàn khác với trước kia của nó.
Ăn xong, cô ta đứng lên rửa bát.
Đôi tay từng làm móng cầu kỳ ngâm trong nước rửa chén, vụng về đến mức buồn cười.
Con bé ngồi bên cạnh làm bài tập, chẳng ngẩng đầu lên mà hỏi:
“Mẹ, chuyện công ty của mẹ giải quyết xong chưa?”
Bóng lưng Tần Nhược Mi khựng lại.
“Đang bổ sung thuế. Bị phạt khá nhiều. Công ty vẫn còn trụ được, nhưng phải chuyển sang văn phòng nhỏ hơn.”
“Ồ.”
Con bé cúi đầu tiếp tục viết.
“Vậy mẹ phải nhớ ghi sổ. Không lại loạn hết lên.”
Tần Nhược Mi quay người lại, bọt xà phòng từ tay nhỏ xuống sàn.
“Tri Vi, con hận mẹ sao?”
Con bé dừng bút.
“Trước đây có.”
Nó không ngẩng đầu.
“Bây giờ không hận nữa. Nhưng con cũng sẽ không quay về.”
Cuối cùng nó ngẩng đầu lên.
“Mẹ, trước đây con cứ nghĩ mẹ bỏ con bên cạnh thùng rác là vì con không tốt.”
“Sau này con mới hiểu, người không tốt là mẹ.”
Nước mắt Tần Nhược Mi rơi xuống thành bồn rửa bát.
“Là lỗi của mẹ.”
“Ừ.”
Con bé gật đầu, rồi lại cúi xuống làm bài.
“Biết sai mà sửa thì vẫn là một người mẹ tốt.”
“Nhưng con không muốn sống cùng mẹ.”
“Bên lão Đường phải có người trông chừng. Chú ấy mà không có ai quản, kiểu gì cũng tự ăn cho chết.”
Tôi đang thay lốp xe bên ngoài, nghe rõ mồn một.
Chiếc tua vít trong tay suýt nữa lại rơi trúng chân.
Hai năm thoắt cái đã trôi qua.
Tiệm sửa xe cũng đổi biển hiệu.
Tấm biển sắt gỉ sét trước kia giờ được thay bằng một hộp đèn sáng bóng:
**“Trung tâm dịch vụ ô tô Lão Đường.”**
Thật ra vẫn là căn lán tôn ấy.
Chỉ là cả trong lẫn ngoài đều được sơn sửa lại một lượt. Dụng cụ được treo lên tường, linh kiện xếp vào từng ngăn tủ, dưới sàn còn trải thảm chống trượt.
Cách bố trí này là ý tưởng của con bé.
Nó nói như vậy có thể nâng cao hiệu suất làm việc thêm hai mươi phần trăm.
Bên cạnh tiệm còn có thêm một gian phòng nhỏ.
Trên cửa dán một tờ giấy in:
**PHÒNG TÀI CHÍNH.**
Bên trong chỉ có một chiếc bàn, một chiếc ghế xoay và một chiếc máy tính cũ.
Đó là lãnh địa riêng của con bé.
Những người buôn bán nhỏ trên con phố này dần dần đều tìm đến nhờ nó ghi sổ.
Sổ nhập xuất tồn của siêu thị ông Nghiêm, bảng tính chi phí của quán ăn sáng chị Khâu, báo cáo tháng của tiệm kim khí Hầu Mãn Đồn…
Nó nhận hết, mỗi đơn thu mười tệ.
Những hộ khó khăn thực sự như ông Bàng, người chuyên thu mua phế liệu, nó chỉ lấy một tệ.
“Một tệ cũng là tiền.”
Nó nói.
“Không lấy tiền thì là không tôn trọng công việc của người ta.”
Ông Bàng đi đâu cũng khoe:
“Con bé lão Đường nhặt về còn giỏi hơn cả kế toán ngân hàng!”
Con bé đã lên lớp bốn, vì học vượt một lớp.
Nó cao lên khá nhiều, nhưng vẫn gầy.
Trên sống mũi là một cặp kính gọng đen do chính nó chọn, trông chẳng khác gì một ông cụ non.
Nó vẫn gọi tôi là “lão Đường”.
Vẫn ngày nào cũng lôi tôi dậy vào sáng sớm, bắt tôi vươn tay đá chân tập thể dục.
Và cuối tháng, nó vẫn cầm máy tính, ngồi đối sổ với tôi từng khoản một.
Nhưng cuốn sổ của con bé ngày càng dày hơn.
Nửa đêm tôi thức dậy đi vệ sinh, thường xuyên nhìn thấy phòng nó vẫn sáng đèn. Tôi đẩy cửa bước vào, thấy nó nằm úp trên bàn ngủ quên, trước mặt còn bày sổ sách của người khác, trong tay vẫn nắm chặt cây bút.
Tôi bế nó lên giường, đắp chăn cẩn thận.
Nó mơ màng lẩm bẩm:
“Lão Đường… tháng này nhập dầu máy đắt quá…”
Tôi tắt đèn bàn, đứng ngoài cửa ngoái đầu nhìn lại một lần.
Con bé này mới chín tuổi.
Thế mà nó đã giúp cả con phố này nuôi sống biết bao hộ kinh doanh nhỏ.
Hầu Mãn Đồn kết hôn rồi.
Vợ anh ấy là Tiểu Hà, mở một tiệm làm móng ở khu nhà bên cạnh.
Tiệc cưới được tổ chức tại quảng trường nhỏ trong khu dân cư, một dãy bàn gấp, nào món kho, bia, rồi tiệc rượu cứ nối tiếp nhau.
Tôi làm phù rể.
Còn Đường Tri Vi làm tổng quản ghi sổ.
Con bé ngồi phía sau bàn lễ, trước mặt đặt một chiếc laptop — quà sinh nhật tôi tặng nó năm ngoái, một chiếc ThinkPad cũ mua lại với giá ba trăm tệ.
Nó tự cài phần mềm ghi sổ. Mỗi khi có một vị khách đến là nhập một khoản, trên màn hình lớn lập tức hiện biểu đồ cột.
Hầu Mãn Đồn nhìn chằm chằm màn hình chiếu, vui đến mức đập đùi:
“Cảnh này mà không biết trước, người ta còn tưởng công ty niêm yết đang họp hội đồng quản trị.”
Tiểu Hà đang dặm phấn, liếc qua màn hình, suýt nữa rớt cả mắt ra ngoài:
“Mãn Đồn, con bé nhà các anh rốt cuộc có lai lịch gì vậy?”
“Thiên tài.”
Hầu Mãn Đồn giơ cao ly rượu.
“Thiên tài mà lão Đường nhà mình nhặt được.”
Hôm đó tôi uống khá nhiều.
Con bé ngồi bên cạnh, đổi ly rượu trắng trước mặt tôi thành nước lọc, rồi nhét vào tay tôi một viên thuốc giải rượu:
“Lão Đường, ngày mai chú còn phải sửa xe.”
“Hôm nay vui mà.”
“Vui cũng không được.”
Nó lấy chai rượu trước mặt tôi đi, rồi thở dài:
“Lão Đường, chú cũng nên tìm một người bầu bạn đi.”
Tôi bị viên thuốc giải rượu làm nghẹn đến suýt chết:
“Cháu nói gì?”
“Chú Mãn Đồn kết hôn rồi, ông Bàng cũng có bạn đời. Còn chú thì ngay cả một đối tượng cũng không có.”
Nó nghiêm túc lướt điện thoại:
“Cháu đăng ký cho chú một tài khoản trên trang web mai mối rồi — dùng căn cước của chú để đăng ký, ảnh đại diện cũng do cháu chọn, là ảnh chú mặc đồ bảo hộ lúc làm việc. Đã có ba người trả lời rồi.”
Tôi: “…”
Nó xoay điện thoại lại cho tôi xem.
Phần giới thiệu cá nhân viết:
**“Lão Đường, 32 tuổi, thợ sửa xe, có một cô con gái. Biết nấu ăn (đang học), hút thuốc ít (sắp cai được), biết nghe lời khuyên. Số điện thoại liên hệ: điện thoại bàn của tiệm.”**
Ảnh đại diện là ảnh tôi đang ngồi xổm dưới gầm xe siết ốc.
Nửa khuôn mặt chìm trong bóng tối, vết sẹo cũng không nhìn rõ lắm.
“Cháu viết cái quái gì vậy!”
“Đều là sự thật.”
Nó cất điện thoại đi.
“Cũng không thể lừa người ta được. Nhưng tấm ảnh đẹp trai nhất của chú lại che mất vết sẹo — đây là nghệ thuật. Trước tiên phải để người ta có thiện cảm, sau đó mới để họ chấp nhận toàn bộ sự thật.”
“Cháu học mấy thứ này ở đâu vậy?”
“CNKI.”
Nó cúi đầu bấm máy tính.
“Có một bài nghiên cứu tên là 《Nghiên cứu vấn đề bất cân xứng thông tin trên thị trường hôn nhân và biện pháp ứng phó》. Cháu đọc hai lần rồi.”
Tôi ngồi đó hồi lâu, chẳng nói được câu nào.
Hầu Mãn Đồn cầm ly rượu đi tới, liếc qua màn hình rồi cười đến mức rượu trong miệng phun hết ra:
“Lão Đường, việc đáng giá nhất đời này của cậu…”
Nói đến đây, anh ấy nuốt nửa câu còn lại, nhìn con bé rồi đổi giọng:
“…đều đã được một đứa nhóc chín tuổi làm thay cậu hết rồi.”
—
Đêm giao thừa.
Trước cửa tiệm sửa xe đã dán câu đối đỏ.
Vế trên: **“Bánh xe cuồn cuộn cuốn tài khí.”**
Vế dưới: **“Hạt bàn tính từng hạt đón phúc tinh.”**
Hoành phi bốn chữ:
**“Già trẻ bình an.”**
Hầu Mãn Đồn bảo câu đối chẳng đối chút nào.
Con bé nói:
“Đây gọi là tả thực.”
Bữa cơm tất niên do Tần Nhược Mi đứng bếp.
Hai năm nay tay nghề của cô ta thật sự tiến bộ.
Sườn xào đỏ không còn cháy khét nữa, cô ta còn học được món dưa cải hầm miến.
Con người cô ta cũng thoải mái hơn rất nhiều.
Tóc không còn lúc nào cũng chải chuốt căng cứng, đôi khi đến tiệm còn tùy tiện buộc tóc đuôi ngựa.
Móng tay cũng tháo hết móng giả rồi, cô ta nói hai năm nay ngâm tay bên bếp nhiều quá nên cũng chẳng còn hơi sức mà làm móng.
Công ty vẫn còn hoạt động, nhưng quy mô đã thu nhỏ đi rất nhiều.
Từ văn phòng rộng hai trăm mét vuông chuyển sang một khu làm việc chung chỉ hơn ba mươi mét vuông.
Cô ta nói trước đây kiếm được nhiều tiền, nhưng đêm nào cũng mất ngủ.
Bây giờ kiếm ít hơn, ngược lại còn thấy yên lòng.
Cô ta đặt một đĩa sủi cảo trước mặt con bé:
“Tri Vi, nếm thử đi. Nhân thịt heo cải thảo.”
Con bé gắp một cái cắn thử, gật đầu:
“Ngon hơn năm ngoái. Nhưng phần nhân có thể nhạt thêm một chút.”
Tần Nhược Mi bật cười.
Cô ta lấy một cuốn sổ nhỏ từ túi tạp dề ra, nghiêm túc ghi lại.
Tối hôm đó, trong nhà chen chúc hơn chục người.
Hầu Mãn Đồn và Tiểu Hà đến, ông Nghiêm mang tỏi ngâm đến, ông Bàng xách hai chai Nhị Oa Đầu tới góp vui.
Cửa cuốn chỉ kéo xuống một nửa, hơi nóng khiến lớp kính cửa sổ phủ kín một màn sương trắng.
Đường Tri Vi ngồi chính giữa, trước mặt là chiếc laptop, đang làm một bản **“Tổng kết tài chính năm”** cho mọi người.
“Lợi nhuận gộp của siêu thị ông Nghiêm tăng mười lăm phần trăm, chủ yếu nhờ đồ uống và đồ ăn vặt.”
“Lợi nhuận ròng của quán ăn sáng chị Khâu giảm ba phần trăm. Giá trứng và bột mì đều tăng, đề nghị tăng giá bánh bao hoặc đổi nhà cung cấp.”
“Điểm thu mua phế liệu của ông Bàng kiếm được ít nhất, nhưng tỷ suất lợi nhuận lại cao nhất…”
Con bé dừng lại một chút.
“Vì không phải trả tiền thuê mặt bằng.”
Cả căn phòng nghe mà ngơ ngác.
Ông Bàng giơ chai Nhị Oa Đầu đứng phắt dậy:
“Con bé, ông lạy con một lạy!”
“Không cần đâu.”
Con bé đẩy kính lên.
“Năm sau vẫn như cũ, mười tệ. Riêng ông là một tệ.”
Mắt ông Bàng đỏ hoe.
Gần đến nửa đêm, tiếng pháo từ đầu ngõ vọng vào.
Con bé cuộn mình trên sofa bên cạnh tôi, đắp chiếc áo bông cũ của tôi, chăm chú nhìn những con số đếm ngược trên màn hình máy tính.
“Lão Đường.”
“Ừ?”
“Cảm ơn chú hôm đó đã dừng xe bên cạnh thùng rác.”
Tôi cúi đầu.
“Cảm ơn gì chứ.”
Con bé không nói thêm.
Khoảnh khắc đồng hồ đếm ngược về không, nó nghiêng đầu tựa vào cánh tay tôi rồi ngủ thiếp đi.
Trong tay vẫn nắm chặt chiếc máy tính đã dùng suốt mấy năm.
Ngoài cửa sổ, tiếng pháo nổ đì đùng khắp trời.
Căn lán tôn rung lên ù ù.
Mọi người trong nhà đều nâng ly hô vang:
“Chúc mừng năm mới!”
Ồn ào đến mức chẳng khác nào nồi nước sôi sắp trào.
Thế nhưng con bé vẫn ngủ rất yên.
Tôi cúi xuống, khẽ hôn lên trán nó.
“Chúc mừng năm mới, **chiếc bàn tính sống của lão Đường**.”
Sau đó, Tần Nhược Mi được hưởng án treo, không phải vào tù. Trong ba năm, mỗi tháng cô ta phải đến cơ quan tư pháp trình diện và chấp hành cải tạo tại cộng đồng.
Ngày tuyên án, cô ta gọi điện cho Tri Vi.
Sau khi cúp máy, cô ta nói với tôi:
“Con bé nói cảm ơn. Cảm ơn anh đã cho nó một con đường để sửa sai.”
Tôi không biết phải đáp thế nào.
Khoảng thời gian ấy, con bé im lặng hơn bình thường.
Nó không chủ động nhắc đến Tần Nhược Mi, cũng chẳng nhắc đến phán quyết.
Vẫn đều đặn quản sổ sách, chạy đi làm sổ cho hàng xóm, giúp tôi sửa xe.
Nhưng tôi biết trong lòng nó đang chất chứa một chuyện.
Một chiều thứ Sáu, tôi tan làm sớm, đưa nó ra bờ sông ngoại ô.
Đó là căn cứ bí mật của hai chú cháu.
Mùa hè năm ngoái, tôi từng chạy xe ba bánh chở nó đến đây câu cá, vậy mà nó nhớ mãi.
Nước sông không sâu, hai bên bờ lau sậy lay động.
Mỗi buổi chiều, có thể nhìn thấy cả bầu trời nhuộm thành một màu cam rực rỡ.
Chúng tôi ngồi trên bờ đê, mỗi người cầm một que kem.
“Nếu khó chịu thì cứ nói ra.”
Tôi cắn một miếng kem.
“Đừng giữ trong lòng.”
Con bé không nói gì, chỉ nhai que kem rôm rốp.
Mãi một lúc sau, nó mới lên tiếng:
“Lão Đường, có phải cháu đã làm quá tuyệt tình không?”
Nó nhìn mặt sông, giọng rất khẽ:
“Cháu đã tố cáo mẹ. Dù sao bà ấy cũng là mẹ cháu. Bây giờ bà ấy đã thay đổi, nhưng lúc trước cháu không rút đơn.”
“Cơ quan thuế phạt bà ấy một khoản rất lớn, công ty suýt nữa cũng sụp đổ. Bây giờ bà ấy không ở nổi căn nhà lớn nữa, cũng không lái Mercedes được nữa, mỗi tháng còn phải đến trình diện.”
Nó cúi đầu, kem tan chảy đầy tay.
“Có những lúc cháu nghĩ, hay là thôi đi. Tha thứ cho bà ấy, để mọi chuyện qua hết.”
Gió thổi tới, những bụi lau sậy xào xạc.
Tôi ngậm que kem trong miệng, lau tay lên quần.
“Đêm bà ấy bỏ cháu bên cạnh thùng rác, cháu đã nghĩ gì?”
“Nghĩ sau này phải làm sao, phải đi đâu.”
“Đứa trẻ bảy tuổi…”
Tôi nhìn nó.
“Không nên phải nghĩ đến những chuyện đó.”
“Cháu giúp bà ấy gánh lấy hậu quả của sai lầm này, bà ấy mới có thể thay đổi.”
“Nếu cháu để bà ấy trốn được khoản thuế đó, bây giờ bà ấy vẫn đang ngồi trong văn phòng rộng lớn, vẫn nghĩ mình làm gì cũng đúng.”
“Đó mới là hại bà ấy — để bà ấy tiếp tục sai mãi.”
Cuối cùng nó quay đầu nhìn tôi.
Trong đôi mắt đã ánh lên sắc trời chiều.
“Lão Đường.”
“Ừ?”
“Chú thay đổi rồi.”
“Cái gì?”
“Chú biết giảng đạo lý rồi, mà còn giảng khá hay nữa.”
Nó lau nước mắt, lại bày ra giọng điệu ông cụ non thường ngày, nghiêm túc nhận xét từng câu:
“Xem ra hai năm giáo dục gia đình này không uổng công.”
Tôi tức đến mức suýt nữa đẩy nó xuống sông.
Con bé cười.
Nước mắt còn chưa khô mà đã nhe răng cười.
Đó là lần tôi thấy nó trẻ con nhất.
—
Con bé giành giải nhất trong cuộc thi toán cấp quận.
Giấy khen được gửi đến tiệm, trên phong bì còn đóng dấu đỏ của Phòng Giáo dục.
Hôm đó Tần Nhược Mi vừa hay đến nấu cơm.
Nhìn thấy giấy khen, cô ta đứng bên bếp ngẩn người hồi lâu.
Sau đó cúi đầu tiếp tục thái rau, không nói gì.
Đến bữa cơm, Tần Nhược Mi đột nhiên đặt đũa xuống.
“Tri Vi, mẹ nói với con một chuyện.”
Con bé ngẩng đầu.
“Trước đây mẹ bắt con học toán nâng cao, không phải vì con.”
Tần Nhược Mi siết chặt mép bát, các đốt ngón tay trắng bệch.
“Mà là vì mẹ.”
“Con thi tốt, mẹ có thể gửi vào nhóm chat, có thể khoe với người khác. Con được chín mươi tám điểm, con nhà người ta được chín mươi chín, mẹ liền cảm thấy con không đủ giỏi.”
Căn phòng im phăng phắc.
“Xin lỗi.”
Tần Nhược Mi nói.
Con bé nhìn cô ta hồi lâu, sau đó gắp một miếng sườn bỏ vào bát cô ta.
“Con không cần mẹ xin lỗi.”
“Bây giờ con làm bài vì con thích, không phải vì bất kỳ ai.”
Tần Nhược Mi cúi đầu ăn miếng sườn ấy.
Bữa cơm hôm đó, cô ta ăn tận ba miếng sườn.
Nhiều hơn bất cứ lần nào trước đây.
Sau này tôi mới biết, hồi nhỏ Tần Nhược Mi cũng từng bị ép học toán nâng cao.
Mẹ cô ta — bà ngoại của Tri Vi — là giáo viên toán cấp hai.
Cả đời bà gần như chưa từng cười, coi thành tích của con cái như một bản quân lệnh.
Đêm đó tôi kể chuyện này cho con bé nghe.
Nó vẫn đang đối sổ, chẳng buồn ngẩng đầu:
“Vậy nên chẳng có ai sinh ra đã biết làm cha làm mẹ.”
“Giống như chú, lúc đầu chẳng phải cũng suýt bỏ cháu ở đồn công an rồi một mình chạy mất sao?”
Tôi bị nó nói đến nghẹn họng.
“Nhưng chú học được.”
Nó nói thêm.
“Lão Đường, chú học được cách làm bố rồi.”
Lúc nói câu ấy, giọng nó vẫn bình thản, cứ như đang nói với tôi rằng tháng này tôi mua dầu máy đắt vậy.
Tay tôi run lên.
Chiếc cờ lê suýt nữa lại rơi xuống đất.
—
Ngày Tần Nhược Mi mãn hạn án treo, ba người chúng tôi cùng nhau ra ngoài ăn.
Địa điểm là do cô ta chọn — quán mì Lan Châu ở ngay đầu khu nhà.
Nếu là trước kia, cô ta tuyệt đối sẽ không bước vào loại quán này.
Chê mùi dầu mỡ nồng, chê ghế bẩn.
Bây giờ cô ta lại ngồi trên chiếc ghế nhựa, thuần thục cho thêm hai thìa sa tế, còn gọi với ông chủ:
“Cho tôi sợi nhỏ một chút, dai hơn nhé!”
Ăn được một nửa, cô ta lấy từ trong túi ra một chiếc phong bì, đẩy đến trước mặt con bé.
“Cho con.”
“Không phải tiền.”
Trong phong bì là một tập hồ sơ.
**《Giấy chứng nhận đăng ký tổ chức phi lợi nhuận》.**
“Bằng số tiền tiết kiệm còn lại sau khi nộp đủ thuế, mẹ đã thành lập một tổ chức từ thiện bảo vệ trẻ em.”
Tần Nhược Mi siết chặt đôi đũa, giọng hơi run:
“Chuyên giúp đỡ những đứa trẻ bị bỏ rơi, bị ngược đãi. Từ hỗ trợ pháp lý, nơi ở tạm thời cho đến tư vấn tâm lý, đều có.”
Cô bé nhìn chằm chằm vào tờ giấy chứng nhận ấy rất lâu.
“Những chuyện mẹ từng làm trước đây không thể nào bù đắp lại được.”
Tần Nhược Mi đặt đũa xuống, nhìn con bé.
“Nhưng mẹ có thể đảm bảo, sau này nếu có người đối xử với trẻ con như vậy, trên đời này sẽ có người đứng ra quản chuyện đó.”
Con bé cất tập hồ sơ trở lại phong bì:
“Cái tên này đặt không hay. Những tổ chức bắt đầu bằng chữ ‘Tri’ nhiều quá, khó phân biệt. Để sau cháu đổi cho mẹ một cái tên hay hơn.”
Tần Nhược Mi sững người, rồi bật cười.
“Được, nghe con.”
Trên đường về, tôi hỏi con bé:
“Cháu thật sự muốn giúp mẹ cháu làm tổ chức từ thiện đó à?”
Nó gật đầu.
“Không phải giúp mẹ.”
Nó nhìn những ngọn đèn đường phía trước.
“Mà là giúp những đứa trẻ không may mắn được lão Đường nhặt về.”
—
Tháng Mười Hai, gió lạnh buốt.
Nhưng phía tiệm sửa xe vẫn luôn có một ngọn đèn sáng.
Có người muốn tài trợ cho Đường Tri Vi.
Một người đàn ông mặc vest, tự xưng là thành viên hội đồng quản trị của một quỹ giáo dục, tìm đến tận cửa.
Ông ta nói đã xem thành tích thi đấu của con bé, sẵn sàng tài trợ toàn bộ để nó đến học tại một trường quốc tế ở tỉnh lỵ.
Miễn toàn bộ học phí, còn có học bổng, sau khi tốt nghiệp có thể được tuyển thẳng vào các trường đại học danh tiếng ở nước ngoài.
Ông ta đứng thẳng tắp trước cửa tiệm, đưa danh thiếp cho tôi. Phía sau còn đỗ một chiếc BMW, tài xế ngồi chờ bên trong.
“Tri Vi là một tài năng hiếm có.”
Giọng điệu của ông ta chẳng khác nào lãnh đạo nhà máy đang phát biểu.
“Tiềm năng của con bé không nên bị chôn vùi ở một nơi như thế này.”
Ông ta liếc nhìn căn lán tôn, dầu máy vương đầy sàn, những chiếc lốp cũ treo trên tường.
“Những nguồn lực chúng tôi cung cấp có thể giúp con bé phát huy toàn bộ tài năng.”
Tôi đứng ở cửa, nhất thời không biết phải trả lời thế nào.
Ông ta nói không sai.
Tiệm sửa xe tồi tàn của tôi quả thật chẳng thể cho con bé nhiều hơn nữa.
Trên chiếc bàn học của nó chất đầy sách do chính nó vác từ thư viện về, máy tính vẫn là chiếc hàng thanh lý ba trăm tệ.
Tôi quay đầu nhìn nó một cái.
Nó đang ngồi trong căn phòng nhỏ, nhìn chúng tôi qua cửa kính.
“Anh Đường—”
Người kia còn định nói tiếp.
“Khoan đã.”
Tôi quay người bước vào trong.
Con bé đã ngẩng đầu khỏi cuốn sổ, chẳng hỏi gì, chỉ nhìn tôi.
“Người bên ngoài…”
“Cháu nghe thấy rồi.”
“Cháu muốn đi không?”
Nó không trả lời.
Nó đứng dậy, đi đến bên cửa sổ, nhìn người đại diện quỹ cùng chiếc xe phía sau, rồi quay về bàn, gõ vài cái trên máy tính.
Trên màn hình là thông tin đăng ký kinh doanh, báo cáo thường niên và hồ sơ thuế của quỹ kia.
“Cháu kiểm tra xong rồi.”
Nó tắt màn hình.
“Năm ngoái quỹ đó tài trợ cho mười tám học sinh, trong đó có mười hai người giữa chừng bị ngừng hỗ trợ với lý do ‘thành tích không đạt yêu cầu’.”
“Nhưng trên chứng từ, số tiền của mười hai người đó không được hoàn lại cho bên quyên góp, mà được chuyển vào một tài khoản ở nước ngoài của chủ tịch quỹ.”
Nó đóng máy tính, đẩy kính lên.
“Họ không cần cháu.”
“Họ cần danh tiếng mà thành tích đứng đầu của cháu có thể mang lại.”
“Đến lúc cháu không còn giá trị nữa, họ sẽ đá cháu đi ngay.”
Nó bước ra khỏi tiệm, đứng trước mặt người đại diện quỹ, ngẩng đầu nhìn ông ta:
“Chú ơi, sổ sách năm ngoái của quỹ các chú có cần cháu giúp kiểm tra lại không?”
Sắc mặt người đàn ông lập tức thay đổi.
Ông ta há miệng, nhìn con bé rồi lại nhìn tôi.
“Người lớn các chú…”
Con bé xoay người đi vào trong, giọng không lớn nhưng từng chữ đều rõ ràng:
“…lúc nào cũng nghĩ trẻ con thì chỉ là trẻ con.”
“Nhưng trẻ con rồi cũng sẽ lớn.”
“Có những người, ngay từ khi còn nhỏ, đã không chỉ đơn giản là một đứa trẻ.”
Nó trở vào tiệm, đóng cửa lại.
Qua lớp kính, tôi nhìn thấy nó viết một dòng vào sổ sách.
Sau này tôi mới biết, dòng chữ ấy là:
**“Tiệm sửa xe của lão Đường chính là ngôi trường tốt nhất.”**
—
Có lần tôi hỏi nó:
“Sau này cháu muốn làm gì?”
Nó đang cúi đầu xử lý sổ sách — tháng trước tiệm kim khí của Hầu Mãn Đồn nhập hàng loạn thành một mớ bòng bong.
Nó chẳng buồn ngẩng đầu:
“Làm chuyên gia tính toán bảo hiểm.”
“Là làm gì?”
“Dùng toán học để đánh giá rủi ro và lập kế hoạch tài chính cho doanh nghiệp.”
Cuối cùng nó cũng ngẩng đầu, đẩy kính lên.
“Nói đơn giản thì cũng là tính sổ, chỉ có điều sổ sách lớn hơn siêu thị của ông Nghiêm bên cạnh một chút.”
“Lớn đến mức nào?”
“Có thể vài chục tỷ.”
Tôi im lặng một lúc.
Chiếc máy tính trong tay nó vẫn là cái tôi mua ở cửa hàng văn phòng phẩm ba năm trước, giá hai mươi lăm tệ.
Các phím số đã mòn gần hết.
Theo tốc độ học vượt lớp của nó, tám chín năm nữa là vào đại học.
Sau này, nó sẽ ngồi trong một văn phòng lớn hơn tiệm của tôi không biết bao nhiêu lần, tính toán những khoản tiền hàng chục tỷ.
“Lão Đường.”
Nó kéo tôi trở về thực tại.
“Tháng này chú mua dầu máy đắt rồi.”
“Shell 15W-40, giá thị trường chín mươi lăm tệ, chú lại mua một trăm hai mươi. Bị người ta chém rồi.”
“Cửa hàng đó là ông Nghiêm giới thiệu mà…”
“Sau này dầu máy để cháu mua.”
Nó cúi đầu ghi lại một khoản.
“Cháu sẽ nói chuyện với quản lý của họ.”
“Chú phụ trách sửa xe.”
“Cháu phụ trách không để người khác bắt nạt chú.”
Tôi đột nhiên bật cười.
Cũng đột nhiên chẳng còn thấy lo nữa.
Bất kể sau này nó sẽ tính sổ hàng chục tỷ hay hàng trăm tỷ, nó vẫn mãi là cô quản gia nhỏ luôn chăm chăm để ý giá dầu máy giúp tôi.
—
Đêm đó nằm trên giường, tôi nhớ lại.
Ba năm trước, tại sao đêm ấy tôi lại dừng xe bên cạnh thùng rác?
Thật ra chẳng phải vì tôi muốn làm việc tốt gì.
Chỉ là lúc ấy tôi buồn ngủ đến lú lẫn, tưởng mình nhìn nhầm.
Là bộ đồng phục học sinh của con bé phản sáng, sáng lên như đôi mắt của một con mèo hoang.
Một lý do hoàn toàn chẳng đáng kể.
Vậy mà lại trở thành việc đẹp đẽ nhất tôi từng làm trong đời.
—
Lại một đêm giao thừa nữa.
Cửa cuốn tiệm sửa xe kéo xuống một nửa, bên trong chen chúc hơn chục người.
Hầu Mãn Đồn và Tiểu Hà mang theo cậu con trai vừa đầy tháng — ở nhà gọi là Tiểu Thuyên.
Thằng bé giống bố như đúc, đến cả lúc nhíu mày cũng giống y hệt.
Ông Nghiêm mang đến ba hũ tỏi ngâm.
Ông Bàng xách bốn chai Nhị Oa Đầu.
Chị Khâu bê một đĩa móng giò kho thật lớn, nói bánh bao đã tăng giá rồi, thịt thì không thể tiết kiệm.
Tần Nhược Mi bận rộn trong bếp cả ngày.
Sườn xào đỏ, dưa cải hầm miến, thịt thăn chua ngọt, bảy tám món bày kín bàn.
Cuối cùng cô ta còn bưng từ trong nồi ra một chậu hoành thánh rau tề thái nóng hổi.
Tạp dề lấm tấm dầu mỡ, tóc mái bị mồ hôi dính vào trán.
Động tác lau mồ hôi của cô ta giống hệt tôi mỗi khi sửa xe.
Đường Tri Vi ngồi chính giữa.
Trước mặt mở máy tính, đang làm bản tổng kết cuối năm.
Đây là tiết mục truyền thống của tiệm sửa xe vào đêm giao thừa.
Đã là năm thứ tư rồi.
Báo cáo xong, nó lại mở một tệp mới.
Tiêu đề:
**“Kế hoạch mở tiệm thứ hai.”**
Cả căn phòng im bặt.
Nó đẩy kính lên:
“Lão Đường, gần đây chú nhận việc nhiều quá, một mình làm không xuể.”
“Cháu đã tính rồi. Trên con phố bên cạnh có một mặt bằng đang sang nhượng. Tiền thuê đợt đầu cộng với chi phí sửa sang khoảng bốn vạn tệ.”
“Bây giờ chúng ta có sáu vạn tám tiền tiết kiệm, đủ.”
Nó mở một bảng tính:
“Đây là phân tích đối thủ.”
“Đây là dự đoán lượng khách.”
“Đây là mô hình tính điểm hòa vốn.”
Tôi nhìn cả màn hình đầy những con số mà không nói nên lời.
“Lão Đường.”
Nó tháo kính, dụi dụi mắt.
“Chú sắp mở chi nhánh rồi.”
Hầu Mãn Đồn là người đầu tiên đứng dậy:
“Tôi góp vốn! Hai năm nay tiệm tôi cũng để dành được chút…”
Ông Nghiêm cũng giơ tay:
“Tôi cũng góp!”
Ông Bàng lấy ra một phong bao đỏ nhàu nhĩ:
“Ông chẳng có bao nhiêu tiền. Đây là tiền ông tích cóp từ việc thu mua phế liệu. Hai nghìn, đủ không?”
Chị Khâu thẳng tay rút một xấp tiền mặt đập xuống bàn:
“Tôi góp năm nghìn.”
Tôi nhìn những người trong căn phòng, cổ họng nghẹn lại đến mức không nói được lời nào.
Con bé ngồi giữa mọi người.
Nhìn từng người lấy tiền ra, khóe môi nó cong lên.
Nó chẳng nói gì, chỉ cầm máy tính lên bắt đầu ghi chép.
“Hầu Mãn Đồn, năm nghìn.”
“Ông Nghiêm, ba nghìn.”
“Ông Bàng, hai nghìn.”
“Chị Khâu, năm nghìn.”
Ngón tay nó bấm máy tính nhanh thoăn thoắt.
Miệng lẩm nhẩm những con số.
Vẻ mặt chăm chú ấy giống hệt ba năm trước, khi nó ngồi ở đồn công an giúp tôi đối chiếu hóa đơn tiền điện.
—
Đúng không giờ, tiếng pháo hoa đồng loạt nổ vang.
Tôi bước ra trước cửa tiệm.
Gió lạnh vẫn buốt như ba năm trước.
Căn lán tôn vẫn là căn lán ấy.
Gió lùa, mưa tạt, những chiếc lốp cũ trên tường vẫn đung đưa.
Nhưng nơi này đã trở thành **nhà**.
Con bé bước ra theo, đứng bên cạnh tôi, trong tay vẫn nắm chiếc máy tính.
Nó không đeo găng, những đầu ngón tay lạnh đến đỏ ửng — giống hệt năm đó khi nó lục thùng rác.
Nhưng bàn tay nó rất ấm.
Nó nắm lấy tay tôi.
“Lão Đường.”
“Ừ?”
“Chúc mừng năm mới.”
Tôi cúi đầu.
Nó ngẩng lên.
Trong mắt kính phản chiếu đầy trời pháo hoa.
Tôi ngồi xổm xuống, ôm bàn tay nó vào lòng bàn tay mình.
Tay tôi đầy vết chai và dầu nhớt.
Bàn tay nó nhỏ xíu, chẳng khác gì một chiếc lá vừa mới nhú mầm.
“Chúc mừng năm mới.”
Tôi nói.
“Chiếc bàn tính sống của lão Đường.”
Đêm ấy, dưới ánh đèn bàn trong phòng tôi có một mảnh giấy.
Là thứ con bé lén nhét vào hộp dụng cụ trước khi đi ngủ.
Trên đó viết hai dòng chữ nhỏ:
**“Lão Đường, nếu không có chú, có lẽ cháu sẽ mãi mãi không biết cảm giác được một người thật lòng yêu thương là như thế nào. Từ nay về sau, để cháu bảo vệ chú.”**
Ở dòng cuối cùng, nó còn vẽ một khuôn mặt cười xiêu xiêu vẹo vẹo, đôi mắt cong thành hai vầng trăng khuyết.
Tôi gấp mảnh giấy lại, cất vào túi áo trước ngực.
Bên ngoài, tiếng pháo lại nổ thêm một tràng.
Tôi ngồi bên giường, nhớ về đêm tháng Chạp lạnh thấu xương của ba năm trước.
Chỉ vì một mảng đồng phục phản sáng mà tôi dừng xe bên thùng rác.
Tựa như tháo được một nút thắt chết cứng, kéo ra từ đó cả một quãng đời về sau ấm áp và đầy sức sống.
Trên bệ cửa sổ, chiếc máy tính của con bé được ánh trăng phủ lên một lớp sáng mỏng.
**Hết truyện.**
Posted inTruyện Ngắn