Tôi là Thẩm Chiêu Ninh. Các tiểu thư quyền quý khắp kinh thành thấy tôi đều né như né rắn rết. Người duy nhất chịu cười với tôi – cha tôi – lại chính miệng nói với tôi: “Trên đời này, chiếc lồng kín kẽ nhất không nằm ở phủ tể tướng, mà ở hoàng cung.”
Cha vuốt râu cười: “Chiêu Ninh không chỉ xinh đẹp, mà còn có đôi mắt khiến người ta tự thấy mình kém cỏi. Không gả được cũng tốt, cha nuôi con đến già.”
Miệng tôi đang nhét đầy mứt, nước mắt lại rơi còn nhanh hơn mưa: “Nếu cha nuôi con cả đời, con sẽ cả đời không lấy chồng, ngày ngày bám lấy phủ ăn đến khi cha phá sản!”
Nghe vậy, chút ý cười trên mặt cha bỗng tắt. Nơi đáy mắt ông như dâng lên một dòng ngầm không rõ, giọng ông nén thấp, khàn đi: “Con ngốc, con tưởng phủ tể tướng là chốn yên ổn sao? Nơi thật sự ăn thịt người không chớp mắt, là trong cung.”
Khi đó tôi không hiểu vì sao khi nói câu ấy, ông lại nhìn về sân viện mẹ từng ở.
Cả đời cha quyền thế khuynh đảo triều đình, nhưng chỉ yêu một người phụ nữ: mẹ tôi.
Mẹ tôi là con gái duy nhất của một thương nhân muối ở Giang Nam. Ngày mẹ gả vào nhà họ Thẩm, những rương hồi môn xếp từ nam thành đến bắc thành, cả phố nhìn mà ghen tị đỏ mắt. Nhưng mẹ không sống qua mùa đông năm tôi ba tuổi, c/h/ế/c trong một trận cảm lạnh mà ai nấy đều nói là “có gì đó mờ ám”.
Lời đồn lan rộng nhất bên ngoài là: kẻ đối địch với cha mua chuộc thầy lang, giở trò trong thuốc. Từ sau đó, cha không còn là vị quan trẻ tuổi ôn hòa như ngọc năm nào, mà trở thành “Thẩm độc tướng” khiến văn võ cả triều vừa nghe tên đã lạnh sống lưng.
Ông giơ tay là có thể đảo lộn nửa bầu trời. Mười hai đạo mật lệnh trong tay áo vừa rung lên, liền có một chuỗi đầu người rơi xuống. Kẻ chống đối ông, nhẹ thì bị đày đến Lĩnh Nam, nặng thì cả nhà không còn ai.
Năm tôi bảy tuổi, nhân lúc không ai để ý, tôi lục từ đáy rương ra chiếc áo lễ phục dệt kim tuyến hình chim trĩ mẹ cất trong hồi môn, mặc lên người rồi quay vòng trước gương đồng, đúng lúc bị cha bắt gặp.
Ông đứng sững tại chỗ rất lâu, hốc mắt dần đỏ. Ông cúi xuống chỉnh lại vạt áo cho tôi, ngón tay run như tờ giấy trước gió: “Chiêu Ninh giống mẹ con quá… Nếu mẹ con có thể nhìn con lớn lên, thì tốt biết mấy.”
Tôi dùng đầu ngón tay còn dính đường bột chọc vào giữa hai chân mày cha: “Cha không được khóc, Chiêu Ninh sẽ mãi ở bên cha!”
Cha ôm chặt tôi vào lòng, cằm tì lên đỉnh đầu tôi, nghẹn giọng nói một câu mà khi đó tôi hoàn toàn không hiểu: “Con ngốc, rồi có một ngày, con sẽ hận cha.”
Năm tôi cập kê, Thái hậu truyền chỉ tổ chức một bữa tiệc ngắm hoa. Cả kinh thành đều biết, đó là lấy danh nghĩa ngắm hoa để chọn chính phi cho Thái tử.
Cha cáo bệnh, từ chối thiếp mời thay tôi. Nhưng đêm trước ngày tiệc, ông lại mặc cho tôi bộ đồ tiểu thái giám màu xanh xám, đưa tôi từ cửa hông vào Ngự Hoa Viên.
“Cha, sao cha lại đưa con đến đây?” Tôi co mình sau hòn non bộ, cách một ao nước mùa xuân nhìn về phía những quý nữ xa xa, ngọc bội leng keng, tim đập thình thịch.
Cha chắp tay sau lưng đứng trong bóng tối, trong mắt lạnh như lưỡi dao: “Thái tử muốn cầu thân với con, vậy mà vừa quay lưng đã léng phéng với con gái của Thượng thư Bộ Công. Chiêu Ninh, mở to mắt mà nhìn cho kỹ, chân tình trong cung này rốt cuộc đáng mấy lạng bạc.”
Chưa dứt lời, tôi đã thấy Thái tử dắt một cô gái mặc áo màu hạnh bước vào rừng đào. Miếng ngọc bội song ngư nơi eo cô ta, tôi nhận ra — năm ngoái vào sinh nhật tôi, Thái tử từng đích thân đặt vào tay tôi một miếng ngọc bội y hệt, nói là “lời hẹn đầu bạc”.
Tôi siết chặt cửa tay áo, móng tay gần như ấn sâu vào thịt trong lòng bàn tay.
Cha khẽ cười một tiếng, rút từ trong tay áo ra một cuộn mật báo, giọng điệu chậm rãi thản nhiên: “Sổ sách Thượng thư Bộ Công tham ô quân lương, sáng nay đã được đưa lên long án. Con có muốn xem vở chia rẽ uyên ương này sẽ diễn tiếp thế nào không?”
Tôi ngẩng đầu nhìn ông. Nụ cười nơi khóe miệng ông như đóng một lớp băng mỏng, còn trong đáy mắt lại phản chiếu gương mặt tôi đang đan xen giận dữ và kinh nghi.
Cũng chính khoảnh khắc đó tôi mới hiểu, cha không phải người cha từ ái muốn che chở tôi chu toàn. Ông dẫn tôi vào đây, là để tôi tận mắt nhìn rõ — con gái nhà họ Thẩm chúng ta, từ trước đến nay vốn là lưỡi dao sắc bén nhất trên bàn cờ này.
Hoàng hôn ba ngày sau, tin cả nhà Thượng thư Bộ Công bị tru di như một cơn gió loạn, quét khắp kinh thành.
Thái tử quỳ ngoài Hàm Nguyên điện khóc lóc cầu xin tha mạng, nhưng bị cha chặn lại bằng một câu nhẹ bẫng: “Đường đường là trữ quân mà lại qua lại riêng tư với con gái tội thần, còn ra thể thống gì?”
Tôi trốn sau lưng cha, nhìn Thái tử mặt đầy nước mắt, bỗng nhớ đến đêm Thượng Nguyên rực đèn, chàng từng đích thân cài cho tôi một cây trâm châu, nói: “Chiêu Ninh là trăng trên trời, nguyện soi sáng nhân gian.”
Thì ra những lời ngon tiếng ngọt, trước bốn chữ “vua muốn thần c/h/ế/c”, nhẹ như một hạt bụi.
“Nhìn rõ chưa?” Cha bỗng cúi người xuống, nói bằng giọng chỉ mình tôi nghe thấy, “Tình ái trong cung, từ trước đến nay vốn là thứ phụ thuộc vào quyền lực. Chỉ có người đứng ở vị trí cao nhất, mới xứng nói một tiếng ‘che chở’.”
Tôi cúp mắt, nhớ đến lúc mẹ lâm chung, bà nắm chặt tay tôi, chiếc vòng phỉ thúy trên cổ tay cấn vào tay tôi đến đau: “A Ninh, đừng học theo cha con… đừng để mình dính quá nhiều m/á/mại dâm’ => ‘m//ạ/i d//â//m.”
Nhưng tôi đã đứng trong m/á/mại dâm’ => ‘m//ạ/i d//â//m rồi.
Ngày sinh nhật mười sáu tuổi, cha mở tiệc lớn ở phủ tể tướng, gần như mời khắp những gia đình có m/á/mại dâm’ => ‘m//ạ/i d//â//m mặt trong kinh thành.
Tôi mặc một bộ váy đỏ thạch lựu, trên búi tóc cài cây trâm vàng điểm chín con chim loan nhỏ. Khi tôi đi quanh các bàn mời rượu, lại nghe sau cột hành lang có người xì xào:
“Cô nương nhà họ Thẩm dù có xinh đẹp cỡ nào cũng là mệnh khắc người, ai cưới nàng ta chỉ có xui xẻo.”
“Nghe nói mẹ nàng ta chính là bị nàng ta khắc c/h/ế/c…”
Tôi siết chặt chén rượu, đầu ngón tay gần như lún vào lòng bàn tay. Nhưng khi ngẩng đầu lên, tôi chạm phải ánh mắt của cha.
Ông bưng chén rượu, thong thả bước tới, giọng như tẩm mật: “A Ninh, mệt rồi phải không? Cha đưa con đi xem một thứ hiếm lạ.”
Tôi theo ông băng qua dãy hành lang quanh co, đi thẳng đến một căn mật thất sâu nhất trong hậu trạch phủ tể tướng.
Trên bức tường dưới ánh nến lay động, treo một dãy đèn lồng da người ngay ngắn. Dưới đất đặt mấy chiếc chum lưu ly lớn, đáy chum chìm đầy xương trắng, vài con rắn độc đang lười biếng cuộn mình trên đống xương.
“Chiếc đèn lồng này là của vị Ngự sử năm ngoái đàn hặc ta.” Cha dùng tay áo lau vết m/á/mại dâm’ => ‘m//ạ/i d//â//m trên đèn, “Hắn mắng ta họa quốc ương dân, lại quên mình từng nhận bao nhiêu tiền bẩn.”
Tôi nhìn những chiếc đèn lồng bóng nhẫy, dạ dày cuộn trào, suýt nữa nôn ngay tại chỗ.
Nhưng cha lại ấn tôi vào vách đá lạnh buốt, nâng cằm tôi lên: “Sợ rồi? Sợ là đúng. Phải để tất cả mọi người đều sợ con, con mới không bị thế đạo này nuốt sống.”
2.
Năm tôi mười tám tuổi, tiên đế băng hà. Mấy vị hoàng tử đấu nhau đến mức thành một nồi cháo m/á/mại dâm’ => ‘m//ạ/i d//â//m. Cuối cùng, người bò lên từ bùn lầy và ngồi vững trên chiếc ghế ấy là Lục hoàng tử Bùi Liệt.
Cha dẫn tôi vào cung chúc mừng. Tôi nhìn qua từng lớp rèm châu, thấy Bùi Liệt một thân long bào minh hoàng, nhưng bên hông lại đeo một thanh kiếm gãy.
Thanh kiếm ấy là “Trung Dũng kiếm” do tiên đế ngự ban. Sau đó, khi ông bị người ta vu hãm tội mưu phản, chính thanh kiếm này đã chém đứt phăng ba ngón tay của ông.
“Thẩm khanh,” khi ông mở miệng, giọng như một thanh đao tẩm băng, “trẫm nghe nói khanh có một hòn ngọc quý trên tay, không biết đã gả cho ai chưa?”
Cha phủ phục dập đầu, nhưng sống lưng vẫn thẳng tắp: “Tiểu nữ ngu dốt, vẫn chưa định hôn phối.”
Bùi Liệt cười một tiếng, đáy mắt lại không có chút ý cười: “Trẫm vẫn chưa lập hậu, chi bằng… sính lập tiểu thư nhà họ Thẩm làm hoàng hậu.”
Trong điện phút chốc yên tĩnh đến mức có thể nghe thấy tiếng tuyết rơi.
Tôi siết chặt miếng ngọc mẹ để lại trong tay áo. Trên ngọc khắc hai chữ “bình an”, bị mồ hôi lạnh của tôi thấm đến lạnh buốt.
Cha quay đầu nhìn tôi, ánh mắt phức tạp như một vũng nước sâu.
Tôi bỗng nhớ lại lời ông từng nói: “Chiêu Ninh, nếu thật có ngày phải vào cung, hãy nhớ — đừng yêu bất kỳ ai, đừng tin bất kỳ ai, kẻ thù của con luôn nhiều hơn con tưởng.”
Thế là tôi cũng học theo dáng vẻ của các nữ quyến trong điện, dịu dàng cúi đầu đáp: “Thần nữ lĩnh chỉ tạ ân.”
Ngày đại hôn, Trường An tuyết rơi rất lớn.
Tôi mặc bộ giá y bảy lớp, giẫm lên thảm gấm rải đầy cánh mai đỏ bước về phía Hàm Nguyên điện. Trong tay áo giấu t/h/u/ố/c đ/ộ/c cha đưa — nếu Bùi Liệt muốn bắt tôi làm con tin, ít nhất tôi vẫn có một con đường cùng c/h/ế/c với hắn.
“Nhất bái thiên địa—”
“Nhị bái cao đường—”
Đến lượt “phu thê đối bái”, Bùi Liệt bỗng đưa tay đè lên vai tôi, cúi đầu sát tai tôi: “Thẩm Chiêu Ninh, nàng biết vì sao trẫm chọn nàng không?”
Tôi nín thở, đầu ngón tay chạm vào chiếc lọ sứ nhỏ lạnh buốt: “Thần nữ nguyện nghe cho rõ.”
Hắn cười một tiếng, hơi nóng phả lên dái tai tôi: “Vì nàng là con gái Thẩm Hành, trẫm muốn Thẩm Hành biết, trên đời này, không gì lớn hơn long ỷ.”
Tôi ngước mắt nhìn hắn, đáy mắt hắn rực lên hai ngọn lửa, hận ý và dã tâm quyện vào nhau.
Thì ra trong mắt hắn, tôi cũng chỉ là một quân cờ để hắn dùng kiềm chế cha tôi.
Cũng tốt. Tôi cong khóe môi, để mặc hắn chỉnh lại phượng quan cho tôi: “Hoàng thượng và cha tôi, quả nhiên là kỳ phùng đối thủ.”
Hắn nhướng mày: “Nàng không sợ trẫm g/i/ế/c nàng sao?”
Tôi tiến sát hơn, hạ giọng đến mức chỉ hai người nghe thấy: “Hoàng thượng nếu g/i/ế/c thần thiếp, ngày mai cha sẽ khiến Trường An m/á/mại dâm’ => ‘m//ạ/i d//â//m chảy thành sông.”
Đồng tử hắn đột ngột co lại, rồi bật cười lớn, tiếng cười làm tuyết trên nóc điện rơi lả tả: “Quả nhiên là con gái Thẩm Hành, đủ tàn nhẫn.”
Tôi nhìn đôi mắt sâu không thấy đáy của hắn, bỗng thấy rằng, trong thâm cung này chưa từng có kẻ thắng. Chỉ có thợ săn và con mồi lần lượt đổi vai.
Đêm tân hôn, Bùi Liệt nghỉ lại ở Ngự thư phòng, không bước nửa bước vào Khôn Ninh cung.
Tôi tháo phượng quan, nhìn gương mặt tái nhợt của mình trong gương, bỗng nhớ bà vú theo mẹ về nhà chồng năm xưa từng nói: “Cô gia năm ấy thích nhất là vẽ lông mày cho phu nhân, vẽ một lần là nửa canh giờ.”
Nhưng bây giờ, cha tôi ngay cả nhìn tôi một cái, trong mắt cũng đầy toan tính.
“Nương nương, hoàng thượng gửi tới một món lễ mừng.” Cung nữ bưng một chiếc hộp mạ vàng bước vào, giọng nói dè dặt.
Tôi mở hộp ra, bên trong là một chiếc vòng ngọc xanh, ấm mịn như một vốc nước, trên thân vòng chạm khắc một con bạch lộ quay đầu lại, đúng là chiếc mà mấy hôm trước tôi đã nhìn thêm hai lần qua tủ kính ở Lưu Ly Các.
Dưới đáy hộp ép một mảnh giấy nhỏ, viết bảy chữ: “Ánh mắt ấy, trẫm nhớ tới nay.”
Tôi siết chặt chiếc vòng ngọc, đầu ngón tay trắng bệch.
Thì ra hắn đã sớm cho người điều tra rõ tôi thích gì; thì ra từ khoảnh khắc hắn để mắt đến tôi, tôi đã không còn bí mật.
“Đi trả lời hoàng thượng,” tôi ném chiếc vòng vào sâu trong hộp trang điểm, “bổn cung tạ ơn. Nhưng chiếc vòng ngọc này quá quý giá, bổn cung không dám đeo.”
Sau khi cung nữ lui xuống, tôi nhìn vầng trăng lạnh ngoài cửa sổ, nhớ đến bài học đầu tiên cha dạy tôi — đừng bao giờ để người khác biết điểm yếu của con, nếu không điểm yếu ấy sẽ biến thành con dao đâm vào con.
Ba ngày sau, Bùi Liệt bất ngờ ngự đến Khôn Ninh cung, phía sau là một toán thái giám khiêng rương.
“Trẫm nghe nói nàng không thích vàng bạc trang sức,” hắn hất cằm, bảo đám thái giám mở rương, “vậy còn những thứ này thì sao?”
Trong rương xếp ngay ngắn những cuốn sách cổ ố vàng, lại đều là binh thư và chiến sách của các triều đại.
Thứ tôi thích nhất chính là những thứ này. Binh thư trong thư phòng cha, tôi từ nhỏ đã lật đọc đến lớn, thuộc nằm lòng.
“Bệ hạ sao biết thần thiếp thích thứ này?” Tôi cố ý dùng hai chữ “thần thiếp” để nhắc hắn phải giữ quy củ.
Bùi Liệt không đáp, chắp tay sau lưng bước tới, trên người mang theo mùi gỗ tùng lạnh lẽo: “Thẩm Chiêu Ninh, nàng tám tuổi đã có thể chép thuộc nguyên quyển 《Tôn Tử》, chín tuổi đã có thể suy diễn trận pháp trong 《Lục Thao》, mười ba tuổi bắt đầu thay Thẩm Hành xử lý mật báo… Nàng tưởng những chuyện này thật sự có thể giấu trẫm cả đời sao?”
Lòng bàn tay tôi rịn mồ hôi lạnh. Những việc này, cả đời cha tôi kiêng kỵ nhất là để người ngoài biết.
“Vậy bệ hạ muốn thần thiếp làm gì?” Tôi lùi nửa bước, lại bị hắn một tay chụp lấy eo, ép tựa vào giá sách.
Hắn cúi đầu xuống, yết hầu khẽ lăn: “Trẫm muốn làm gì, nàng không biết sao?”
Tôi ngước mắt nhìn gương mặt hắn gần trong gang tấc, nhớ tới một câu khác cha từng nói — tình yêu của đế vương chẳng qua là sự bố thí sau khi cân nhắc lợi hại, việc con cần làm là khiến hắn không thể rời xa con.
Thế là tôi vòng tay lên gáy hắn, đầu ngón tay nhẹ nhàng lướt qua vết sẹo cũ bên cổ hắn: “Bệ hạ muốn thần thiếp làm quân cờ?”
Hơi thở Bùi Liệt trầm xuống một thoáng, hắn cúi đầu cắn vành tai tôi, giọng khàn như cát sỏi mài qua đá xanh: “Làm quân cờ của trẫm, cũng làm dao của trẫm.”
Tôi nhắm mắt, mặc hắn hôn xuống. Nhưng trong lòng tôi rõ rành rành: từ đêm nay, tôi và Bùi Liệt đều không còn đường lui nữa.
3.
Tháng sau, một phong thư hỏa tốc tám trăm dặm từ bắc cảnh được đưa lên long án: hai mươi vạn đại quân Bắc Nhung đã áp sát biên giới.
Bùi Liệt ném vỡ một chén trà trong buổi chầu, cả triều văn võ im phăng phắc.
Hắn nhìn cha tôi, trong mắt như thiêu đốt: “Thẩm khanh, năm đó khanh nói nhà họ Thẩm bí mật nuôi một đội Huyền Giáp quân, đủ sức chống lại mười vạn tinh binh. Giờ có phải nên dùng rồi không?”
Cha tôi phủ phục dập đầu, không chút hoảng hốt: “Huyền Giáp quân là đội quân hổ lang do tiên đế đích thân phê chuẩn, liên quan đến căn cơ quốc gia. Nếu muốn điều động, theo tổ chế, phải do Hoàng hậu nương nương đích thân hạ lệnh.”
Trong điện vang lên một tràng tiếng hít khí lạnh.
Bùi Liệt siết chặt tay vịn long ỷ, khớp ngón tay trắng bệch: “Thẩm Chiêu Ninh, nàng có bằng lòng không?”
Tôi nhìn gương mặt bình thản của cha trên điện, bỗng hiểu ra, đây cũng là một đề bài cha dành cho tôi — nếu tôi từ chối, thì cả hai bên đều không được lòng ai; nếu tôi đồng ý, sẽ phải mang tiếng “hậu cung can chính”.
“Thần thiếp bằng lòng.” Tôi đứng dậy hành lễ, “Nhưng thần thiếp còn một thỉnh cầu.”
“Nói.”
“Thần thiếp muốn cùng Huyền Giáp quân xuất chinh.”
Lời vừa dứt, cả điện xôn xao.
Cha tôi đột ngột ngẩng đầu, đáy mắt lướt qua một tia kinh ngạc, rất nhanh lại biến thành tán thưởng.
Bùi Liệt nheo mắt nhìn tôi: “Chiến trường hiểm ác, nàng thật sự không sợ c/h/ế/c?”
Tôi đón ánh mắt hắn, cười nói: “Bệ hạ nếu sợ thần thiếp c/h/ế/c, thì đã không đỡ thần thiếp lên ngôi phượng tọa này.”
Hắn khựng lại một thoáng, rồi bỗng cười lớn: “Hay! Không hổ là con gái do Thẩm Hành dạy ra, trẫm chuẩn!”
Ngày xuất thành, tôi một thân giáp bạc, cưỡi con ngựa hãn huyết mà cha đã chọn rất lâu, quay đầu nhìn Bùi Liệt.
Hắn bỗng tung người xuống ngựa, đích thân giúp tôi thắt chặt áo choàng, giọng thấp như sợ bị gió nghe thấy: “Chuyến này hiểm ác, trẫm cho nàng tiên trảm hậu tấu.”
Tôi gật đầu, đầu ngón tay chạm vào chiếc lọ sứ nhỏ hắn nhét cho tôi đêm qua khi lẻn vào Khôn Ninh cung. Đáy lọ khắc một chữ “Chiêu”, là thuốc cầm m/á/mại dâm’ => ‘m//ạ/i d//â//m do chính tay hắn khắc.
“Bệ hạ còn gì dặn dò không?”
Bùi Liệt bỗng ghé lại, nói bên tai tôi bốn chữ: “Phải sống trở về.”
Tim tôi khẽ run. Khi tôi ngẩng đầu lần nữa, hắn đã lên ngựa, bóng lưng thẳng tắp, như một thanh kiếm lạnh vừa rút khỏi vỏ.
Khi tiếng tù và của Huyền Giáp quân vang lên, tôi bỗng nhận ra, có thứ gì đó đang lặng lẽ mềm đi.
Ví như ánh mắt hắn nhìn tôi, và cả chút ấm áp vô lý nơi ngực tôi khi tôi nhớ đến bốn chữ kia.
Gió cát nơi bắc cảnh thô ráp hơn tuyết ở kinh thành, nhưng lại khiến tôi thấy vui hơn khi ở trong thâm cung.
Thống lĩnh Huyền Giáp quân Hàn Tiềm là cựu bộ do cha tôi một tay dìu dắt. Vừa thấy tôi, hốc mắt ông đỏ lên: “Tiểu thư thật sự đến rồi. Tể tướng… người…”
“Cha ta rất khỏe.” Tôi ngắt lời ông, mở phong mật thư trong tay: “Mọi việc làm theo những gì trên này viết.”
Ba ngày sau, tôi dẫn ba ngàn Huyền Giáp quân vòng ra sau đại doanh Bắc Nhung, dùng Thần Hỏa Phi Ô do cha cải tiến đốt xuyên lương thảo quân địch. Khi lửa cháy ngút trời, chính tôi cũng suýt bị luồng nhiệt hất văng khỏi lưng ngựa.
Hàn Tiềm nhìn đám lính Bắc Nhung chạy loạn khắp doanh, hạ giọng: “Thủ đoạn của tiểu thư còn độc hơn cả tể tướng năm xưa.”
Tôi nhìn quân mã tháo chạy phía xa, đầu ngón tay còn vương hơi ấm của thuốc súng: “Độc sao? Cứ coi như đòi chút lãi cho mẹ ta.”
Đêm khuya, tôi ngồi trong trướng lau kiếm, nhận được mật báo của Bùi Liệt: “Thượng thư Bộ Hộ bị tịch biên cả phủ, quân lương đi đâu đã điều tra rõ.”
Tôi cười, cầm bút hồi âm: “Hoàng thượng đừng quên chuyện đã hứa với thần thiếp.”
Chẳng bao lâu đã nhận được hồi âm, nét chữ nguệch ngoạc hơn thường ngày: “Không quên. Đợi nàng về kinh, trẫm sẽ đưa nàng đến Chiếu Tuyết lâu ngắm tuyết.”
Chiếu Tuyết lâu là nơi mẹ tôi khi còn sống thích đến nhất, cũng là nơi năm xưa cha tôi vừa gặp mẹ đã say lòng.
Tôi siết chặt tờ mật báo, bỗng nhớ hắn từng nói một câu: “Thẩm Chiêu Ninh, ta không có phúc được gặp mẹ nàng, nhưng ta nghe nói bà là người phụ nữ dịu dàng nhất trên đời.”
Thì ra hắn biết tất cả.
Thì ra hắn đã sớm nhìn thấu tôi từ đầu đến chân.
Ngày đại quân khải hoàn, Bùi Liệt đích thân ra cổng thành nghênh đón, sau lưng là một biển văn võ bá quan đen kịt.
Tôi tháo mũ giáp xuống, gió cát thổi tung mái tóc vừa rối vừa hoang dại. Hắn bước nhanh lên mấy bước, dùng đầu ngón tay phủi bụi trên vai tôi, nhẹ như sợ chạm vỡ thứ gì: “Hoàng hậu đại thắng trở về, muốn phần thưởng gì?”
Tôi nhìn về phía mái cong của phủ tể tướng xa xa, hành lễ: “Thần thiếp muốn về nhà thăm cha.”
Bùi Liệt nhướng mày: “Chuẩn.”
Vừa về đến phủ tể tướng, tôi đã thấy cha ngồi trong sân ngắm hoa, trước mặt là ấm trà Bích Loa Xuân mẹ năm xưa thích uống.
“Chiêu Ninh,” ông nhìn mấy đóa mẫu đơn vừa nở, giọng thản nhiên, “Máu trên chiến trường, uống thấy sảng khoái không?”
Tôi siết chặt cửa tay áo: “Cha biết rõ còn cố hỏi.”
Ông chậm rãi quay đầu lại, ánh mắt sắc như dao: “Bùi Liệt đối xử với con thế nào?”
Tôi ngẩng đầu đón ánh mắt ông: “Hắn là vua, con là thần. Quân thần mà thôi.”
Cha bỗng cười lạnh một tiếng, rút từ trong tay áo ra một cuộn tranh. Trên tranh chính là cảnh trước cổng thành — Bùi Liệt cúi người phủi bụi cho tôi, ánh mắt được họa sĩ vẽ ra gần như dịu dàng.
“Chiêu Ninh,” ông dùng khớp ngón tay gõ gõ cuộn tranh, “Con không qua mắt được cha đâu. Ánh mắt con nhìn hắn… giống hệt ánh mắt cha năm xưa nhìn mẹ con.”
Toàn thân tôi chấn động, bóng hình trong giấc mơ đêm qua lại trồi lên — gương mặt trẻ tuổi của Bùi Liệt, dần dần trùng khớp với dáng vẻ dịu dàng của cha khi còn trẻ.
Thì ra có những mối duyên được viết trong huyết mạch, muốn trốn cũng trốn không thoát.
Chỉ là mối duyên này là phúc hay họa, tôi không dám nghĩ sâu.
Ngày thứ hai về thăm nhà, Bùi Liệt lại một thân áo xanh thư sinh, vi phục đến phủ tể tướng, bên hông vẫn đeo thanh Trung Dũng kiếm gãy nửa đoạn.
“Bệ hạ sao lại đến đây?” Tôi nhìn đôi giày còn vương sương của hắn, trong lòng không phân rõ là kinh ngạc hay mừng vui.
Hắn nhướng mày cười, từ trong tay áo lấy ra một gói hạt dẻ rang đường bọc giấy dầu: “Nghe nói nàng thích món này. Trên đường vào cung, trẫm vòng qua ba con phố để mua.”
Tôi nhìn gói hạt dẻ còn bốc khói nóng, bỗng nhớ hồi nhỏ cha cũng từng lén mua bánh ngọt cho tôi như vậy, bị mẹ phát hiện thì nói là người hầu mua.
“Tạ ơn bệ hạ.” Tôi đưa tay nhận, đầu ngón tay chạm vào vết chai mỏng nơi lòng bàn tay hắn: “Tay bệ hạ…”
“Vết thương cũ thôi.” Hắn không để tâm cười cười, “Trẫm càng muốn biết, hôm qua Thẩm Hành rốt cuộc nói gì với nàng?”
Tôi bóc một hạt dẻ, đưa lên bên môi hắn: “Cha nói, bệ hạ đối với thần thiếp có tâm tư không sạch sẽ.”
Đồng tử Bùi Liệt khẽ co lại, bỗng nắm lấy tay tôi, vụn hạt dẻ rơi xuống vạt trước áo xanh của hắn: “Vậy còn nàng? Nàng đối với trẫm, có tâm tư không sạch sẽ không?”
Tôi nhìn chút ánh sáng gần như thiêu đốt nơi đáy mắt hắn, bỗng nhớ đến đống lửa trại nơi bắc cảnh. Khi đó tôi tưởng hắn chỉ coi tôi là một quân cờ, nhưng khoảnh khắc bị thương ngã ngựa, cái tên tôi thốt ra lại là hắn.
“Bệ hạ thấy sao?” Tôi không rút tay khỏi tay hắn, “Nếu thần thiếp nói có, bệ hạ tin không?”
Hắn buông tay, quay mặt đi: “Trẫm… không tin.”
Tôi nhìn vành tai đỏ lên của hắn, bỗng thấy buồn cười: “Bệ hạ biết không? Ở bắc cảnh, thần thiếp từng mơ một giấc mơ.”
Hắn đột ngột quay đầu lại: “Mơ gì?”
“Mơ thấy bệ hạ biến thành một con cáo già, còn thần thiếp là con chim sơn tước bị cáo tha về hang.”
Bùi Liệt sững một thoáng, bỗng giữ chặt eo sau của tôi, ép tôi vào cột hành lang, hơi thở nóng bỏng: “Thẩm Chiêu Ninh, nàng đang chơi với lửa.”
Tôi ngẩng mặt, chóp mũi cọ qua mũi hắn: “Bệ hạ không phải cũng đang chơi sao?”
Hắn không nói nữa, cúi đầu hôn lên. Giữa môi và răng là vị ngọt của hạt dẻ rang đường lẫn vị mặn của gió cát phương bắc.
Khoảnh khắc ấy, tôi bỗng mềm lòng đến rối tung — thì ra có những thứ đã sớm mất kiểm soát.
Ví như chút tâm tư không giấu được của tôi dành cho hắn, và cả ánh sáng nơi đáy mắt hắn khi nhìn tôi, thế nào cũng không đè nén nổi.
4.
Sau khi về cung, Bùi Liệt thỉnh thoảng lại ngủ lại Khôn Ninh cung. Một buổi sớm, hắn còn đích thân chải tóc cho tôi.
“Hồi nhỏ, mẫu hậu thường đứng trước ngự án búi tóc cho phụ hoàng.” Động tác hắn vụng về, kéo đến mức da đầu tôi đau từng cơn, “Trước kia nhìn thì thấy dễ, tự làm mới biết khó.”
Tôi nhìn hàng mày hắn nhíu lại trong gương đồng, lại nhớ dáng vẻ cha năm xưa chải tóc cho mẹ. Tuy khác nhau, nhưng đều có cùng một sự nghiêm túc.
“Nếu bệ hạ thấy phiền, gọi cung nữ đến là được.” Tôi nhịn cười, để mặc hắn búi tóc cho tôi lệch qua lệch lại.
Bùi Liệt không đáp, đặt lược xuống, từ trong tay áo lấy ra một cây trâm vàng. Đầu trâm treo chín hạt Đông châu, dưới ánh sáng ban mai lay ra một tầng quang yếu ớt.
“Cái này xin từ chỗ Thẩm Hành, nói là đồ hồi môn năm xưa của mẹ nàng.” Hắn nói, “Nàng đeo rất đẹp.”
Đầu ngón tay tôi chạm vào cảm giác quen thuộc ấy, bỗng nhớ đêm qua cha viết trong mật thư: “Chiêu Ninh, Bùi Liệt có vài phần chân tâm. Nhưng chân tâm của hắn quá nặng, con không đỡ nổi, sẽ bị đè c/h/ế/c.”
“Tạ ơn bệ hạ.” Tôi cúi đầu, “Chỉ là thứ này quá quý giá, thần thiếp sợ làm mất.”
Bùi Liệt lại ôm tôi từ phía sau, cằm đặt lên vai tôi: “Đeo chắc là được. Ta muốn cả triều đình nhìn cho rõ, nàng là hoàng hậu của ta, là người ta nâng niu.”
Tôi nhìn hai bóng người dựa vào nhau trong gương, hốc mắt bỗng cay cay.
Cảm giác được người ta nâng niu trong lòng bàn tay thật sự rất ấm, nhưng ấm đến mức khiến người ta sợ. Vì tôi biết, hơi ấm này chưa chắc kéo dài, mà tôi thì đã quen đi một mình trong đêm lạnh.
Ba tháng sau, tấu chương đàn hặc của Đài Ngự sử như tuyết bay vào Ngự thư phòng, tố cha tôi kết bè kéo cánh mưu lợi, chứng cứ từng việc kê rõ ràng.
Bùi Liệt ném chồng tấu chương ấy xuống trước mặt tôi: “Nàng xem đi.”
Tôi tiện tay lật vài trang, nhìn con dấu riêng của cha trên văn bản, đầu ngón tay lạnh dần — con dấu này rõ ràng là có người ngụy tạo, nhưng ngụy tạo đến mức gần như thật.
“Bệ hạ thấy thần thiếp nên nói gì?” Tôi đặt tấu chương xuống, nhìn thẳng hắn.
Bùi Liệt đột ngột đứng dậy, hất tung chén trà trên án, sứ vỡ đầy đất. Hắn siết cổ tay tôi: “Thẩm Chiêu Ninh, nàng biết rõ ta đang chờ điều gì!”
Tôi ngẩng đầu, thấy trong mắt hắn đầy tia m/á/mại dâm’ => ‘m//ạ/i d//â//m, như một con thú bị nhốt trong lồng: “Bệ hạ đang chờ thần thiếp quỳ xuống cầu xin người, xin người tha cho cha tôi một mạng, đúng không?”
Tay hắn khựng lại, rồi chậm rãi buông ra: “Nàng tin Thẩm Hành đến vậy? Tin hắn sẽ không tạo phản?”
Tôi nhìn đất đầy hỗn độn, bỗng bật cười: “Bệ hạ nếu muốn g/i/ế/c cha tôi, không cần đợi đến hôm nay. Cha tôi mà c/h/ế/c, giang sơn này sẽ loạn — trong lòng bệ hạ rõ hơn ai hết.”
Bùi Liệt bỗng lại nắm vai tôi, ấn tôi lên long ỷ, giọng mang theo vài phần điên cuồng: “Vậy nàng từng nghĩ chưa? Nếu ta cố chấp g/i/ế/c Thẩm Hành, nàng sẽ làm gì?”
Tôi đưa tay nâng mặt hắn: “Bệ hạ sẽ không g/i/ế/c ông ấy. Vì người cần ông ấy, giống như người cần thần thiếp.”
Hắn im lặng rất lâu, bỗng cúi đầu hôn xuống, mang theo sức mạnh lẫn lộn giữa tàn nhẫn và tuyệt vọng.
Tôi nhắm mắt, mặc hơi thở hắn nhấn chìm mình. Nhưng trong lòng tôi biết, trong ván cờ này, không ai thắng.
Hai kẻ bị nhốt trong chiếc lồng của quyền lực và dục vọng, suy cho cùng cũng chỉ là sưởi ấm cho nhau, rồi lại h/à/n/h h/ạ lẫn nhau.
Cha tôi cuối cùng vẫn không bị luận tội. Vì Bắc Nhung gửi thư cầu hòa, tình nguyện cắt đất xưng thần.
Bùi Liệt đè quốc thư cầu hòa xuống án, hồi lâu không nói gì: “Chiêu này của Thẩm Hành, ngay cả trẫm cũng không ngờ tới.”
Tôi nhìn vùng lãnh thổ mới sáp nhập trên bản đồ, bỗng nhớ những lời trong thư cha: “Chiêu Ninh, muốn rửa sạch tội danh cho cha, m/á/mại dâm’ => ‘m//ạ/i d//â//m kẻ thù là hữu dụng nhất.”
“Bệ hạ định thưởng cha thần thiếp thế nào?” Tôi chỉnh lại long bào cho hắn, đầu ngón tay lướt qua vết sẹo cũ nơi ngực hắn.
Bùi Liệt nắm tay tôi, áp lên ngực mình: “Trẫm muốn ban cho ông ấy một tấm đan thư thiết khoán, nàng thấy thế nào?”
Tôi nhìn vào mắt hắn: “Thứ cha thần thiếp muốn nhất, bệ hạ có biết là gì không?”
“Là gì?”
“Là lòng tin của bệ hạ.”
Người hắn khẽ chấn động, cúi đầu kéo tôi vào lòng, giọng nghẹn lại: “Thẩm Chiêu Ninh, nàng thật sự hiểu rõ mọi thứ.”
Tôi không nói nữa, chỉ lặng lẽ dựa vào hắn.
Thật ra ai cũng biết — cha tôi cần lòng tin của Bùi Liệt để giữ phủ tể tướng, Bùi Liệt cần mưu quyền của cha tôi để ổn định giang sơn.
Còn tôi, chẳng qua chỉ là quân cờ nhìn rõ nhất trong ván cờ lớn này, cũng là người lún sâu nhất.
Ngày đông chí, Bùi Liệt đưa tôi ra khỏi cung, đến Chiếu Tuyết lâu.
Mai trước lầu nở đầy cây, tuyết từng lớp từng lớp phủ lên cành, như rắc một tầng bạc vụn.
“Mẹ nàng từng nói, tuyết ở Chiếu Tuyết lâu không giống bên ngoài.” Bùi Liệt giúp tôi kéo chặt áo khoác lông cáo, “Hôm nay nhìn thấy, quả nhiên sạch sẽ.”
Tôi đưa tay hứng một bông tuyết, nhìn nó chậm rãi tan trong lòng bàn tay thành một chút lạnh: “Bệ hạ từng hối hận vì cưới thần thiếp chưa?”
Hắn bỗng nắm tay tôi, đưa lên môi hà một hơi ấm: “Điều duy nhất ta hối hận, là không thể gặp nàng sớm hơn vài năm.”
Tôi ngẩng đầu nhìn hắn, đáy mắt hắn rơi đầy tuyết bay, lại dịu dàng hơn ngày thường rất nhiều: “Chiêu Ninh, đợi thiên hạ an định, ta đưa nàng đến Giang Nam, đến quê hương của mẹ nàng xem một lần, được không?”
Cha từng nói, lời hứa của đế vương giống như mây trên trời, nói tan là tan.
Nhưng khoảnh khắc ấy, tôi lại muốn tin hắn một lần.
“Được.” Tôi gật đầu, mặc hắn kéo tôi vào lòng.
Tuyết rơi trên tóc hắn, như rắc đầy một tầng sương trăng. Tôi đưa tay phủi giúp hắn, lại thấy bên tóc mai hắn chẳng biết từ khi nào đã điểm thêm mấy sợi bạc.
Thì ra trong lúc vô tình, chúng tôi đều không còn là thiếu niên nữa.
Những chân tâm vốn bị giấu trong ánh đao và toan tính, hóa ra cũng có ngày phá đất mà lên, nở thành một đóa hoa giữa trời băng tuyết.
Mùa xuân năm sau, tôi phát hiện mình có thai.
Khi Bùi Liệt biết tin, đang cầm bút phê tấu chương. Cây bút chu sa trong tay hắn “bốp” một tiếng rơi xuống án, mực đỏ bắn lên long bào, như nở ra một đóa hoa m/á/mại dâm’ => ‘m//ạ/i d//â//m.
“Nàng vừa nói gì?” Giọng hắn run rẩy, đứng dậy suýt làm đổ nghiên mực, vài bước đến trước mặt tôi, “Nói lại lần nữa.”
Tôi nhìn bộ dáng vừa kinh vừa hỷ lại chật vật của hắn, bỗng nhớ đến đống lửa trại nơi bắc cảnh: “Thần thiếp nói, bệ hạ sắp làm cha rồi.”
Hắn không nói gì, chỉ quỳ một gối xuống, cẩn thận áp tai lên bụng tôi, giọng nhẹ đến mức gần như run rẩy: “Sẽ là một đứa trẻ thông minh giống nàng, phải không?”
Tôi cười cười, nước mắt lại rơi xuống.
Thì ra trong bức tường cung sâu thẳm như vậy, một sinh mệnh nhỏ bé lại có thể mang đến niềm vui vững chắc đến thế.
5.
Ngày lâm bồn, Trường An lại đổ tuyết.
Tôi siết chặt tay Bùi Liệt, đau đến mức gần như cắn nát chiếc khăn mềm trong miệng, mãi đến khi nghe tiếng con khóc mới chịu thả lỏng.
Bà đỡ bế đứa bé trong tã lót quỳ xuống: “Chúc mừng bệ hạ, chúc mừng nương nương, là một vị tiểu điện hạ.”
Khi Bùi Liệt đón lấy đứa trẻ, động tác vụng về như đang nâng một miếng ngọc dễ vỡ, nhưng vành mắt hắn lại đỏ lên: “Gọi là Thừa Chiêu nhé? Kế thừa đại thống của ta, soi sáng bốn biển, cũng tỏ sự bình an của mẫu thân nó.”
Tôi nhìn khuôn mặt nhăn nhúm nhỏ xíu ấy, bỗng nhớ lời mẹ nói trước lúc lâm chung: “A Ninh, mong cả đời con bình an, tránh xa những tranh giành ấy.”
Giờ tôi đã ở ngay giữa những tranh giành, nhưng đứa trẻ này, tôi muốn nó sống thật tốt.
“Được,” tôi đưa tay khẽ chạm má đứa bé, “Thừa Chiêu, tiểu điện hạ của con.”
Bùi Liệt cúi đầu, đặt lên trán tôi một nụ hôn rất nhẹ: “Cảm ơn nàng, Chiêu Ninh.”
Hôm đó tuyết ngoài cửa sổ rơi suốt một đêm, trong điện lại ấm áp vô cùng.
Ba năm sau, Thừa Chiêu đã có thể chạy lon ton.
Thằng bé luôn thích dang hai cánh tay nhỏ lao vào lòng Bùi Liệt, giọng non nớt gọi: “Phụ hoàng bế!”
Bùi Liệt cười, bế thằng bé nhấc qua đầu: “Thừa Chiêu sau này phải làm đại tướng quân, không thể lúc nào cũng để phụ hoàng bế.”
Tôi dựa bên cột hành lang nhìn hai cha con họ quậy, bỗng nhớ dáng vẻ lần đầu cha tôi bế tôi.
Cũng cẩn thận như vậy, như thể chỉ cần mạnh tay một chút là sẽ làm vỡ thứ gì đó.
“Tể tướng đến —”
Theo tiếng rao ấy, cha tôi chống gậy bước vào, hai bên tóc mai đã bạc từ lâu.
Thừa Chiêu thấy ông, lập tức quay người lao tới: “Ông ngoại bế!”
Cha cười bế đứa trẻ lên, từ trong tay áo móc ra một chiếc trống lắc: “Đây là quà mừng ông ngoại tặng Thừa Chiêu, có thích không?”
Tôi nhìn nét cười nơi khóe mắt cha, bỗng nhớ câu ông từng nói rất lâu trước kia: “Chiêu Ninh, cả đời cha chỉ mong con bình an vui vẻ.”
Đến nay, tâm nguyện của ông cuối cùng cũng coi như thành hiện thực.
Bùi Liệt chẳng biết từ khi nào đã đến bên tôi, nắm lấy tay tôi: “Ngày mai lại có tuyết, trẫm đưa nàng đến Chiếu Tuyết lâu nhé?”
Tôi ngẩng đầu, ánh nắng rơi trên tóc hắn, soi bóng trong mắt hắn thật nhẹ, thật sáng.
“Được.”
Ngoại truyện – Bùi Liệt
Ở đằng xa, tiếng cười của Thừa Chiêu hòa cùng tiếng ho khẽ của cha, như một khúc đồng dao mềm ấm.
Tôi bỗng hiểu ra, thứ tốt đẹp nhất trên đời này, từ trước đến nay chưa từng là phong quang đứng trên vạn người, mà là có người cùng mình đứng lúc hoàng hôn, hỏi mình cháo có còn nóng không.
Và cả đời tôi, cuối cùng đã tìm được một phương bình yên của riêng mình trong tòa cung điện đầy ánh đao này.
Năm ấy lần đầu tôi gặp Thẩm Chiêu Ninh, là trong bữa tiệc cập kê của nàng.
Nàng một thân váy đỏ thạch lựu, trên búi tóc cài trâm vàng chín chim loan, khi đi xuyên qua đầy khách khứa trong sân, đáy mắt rõ ràng giấu một tia không kiên nhẫn.
Khi đó tôi đã biết, nữ tử này sẽ không phải là một bộ giá y mặc cho người ta sắp đặt.
Sau này, tôi cuốn nàng vào vòng xoáy hoàng quyền, nhưng khi nhìn thấy nàng một thân giáp bạc đứng giữa gió bắc, ngực tôi bỗng bị thứ gì đó khẽ đập vào.
Thì ra có những rung động, từ khoảnh khắc đầu tiên gặp mặt, đã âm thầm bén rễ.
Ngày tôi đưa nàng đến Chiếu Tuyết lâu, tôi nhìn nàng đứng trong tuyết cười, bỗng nhớ lời mẫu hậu nói trước khi q/u/a đ/ờ/i: “Liệt nhi, đừng học phụ hoàng con, lúc nào cũng giấu chân tâm sau mưu quyền.”
Tôi nhìn chút ánh sáng trong trẻo nơi đáy mắt nàng, mới dần hiểu ra, trên đời này quả thật có những thứ còn khó có được hơn cả chiếc long ỷ kia.
Ngày Thừa Chiêu chào đời, tôi nắm tay Thẩm Chiêu Ninh, lần đầu nếm được cảm giác sợ hãi là gì.
Tôi sợ nàng sẽ giống mẫu hậu, rời xa tôi ở độ tuổi đẹp nhất; sợ chút hơi ấm tôi dốc hết sức mới nắm được này, cũng sẽ dễ tan như tuyết.
Nhưng khi tôi đón lấy đứa trẻ vừa mềm vừa nhỏ ấy, tôi biết, từ nay dù phải đối đầu cả thiên hạ, tôi cũng phải bảo vệ mẹ con họ.
Họ là điểm yếu của tôi khi ngồi trên chiếc long ỷ cô độc này, cũng là bộ giáp duy nhất của tôi.
Giờ điều tôi vui nhất mỗi ngày, là sau khi tan triều, nhìn Thừa Chiêu đuổi theo Thẩm Chiêu Ninh chạy khắp sân.
Nàng luôn nói tôi làm hư đứa trẻ, nhưng Thừa Chiêu vừa bĩu môi, nàng còn mềm lòng nhanh hơn tôi.
Tôi thường nghĩ, nếu ngày tháng cứ mãi như thế này, bảo tôi sống ít đi mười năm tôi cũng nguyện ý.
Còn những mưu quyền và chém g/i/ế/c năm xưa, đều như một giấc mơ cách một đời, đã bị gió thổi tan trong tuyết.
Khi đêm khuya yên tĩnh, tôi luôn thích nghiêng người, ngắm gương mặt nghiêng đang ngủ say của Thẩm Chiêu Ninh, đầu ngón tay chậm rãi lần theo vết sẹo đỏ nhỏ xíu nơi giữa chân mày nàng.
Đó là v/ế/t t/h/ư/ơ/n/g tôi vô tình để lại nhiều năm trước, giờ đây lại như một dấu bỏng in hằn nơi ngực tôi.
“Chiêu Ninh,” tôi khẽ gọi nàng, biết rõ nàng không nghe thấy, “cảm ơn nàng, vì đã khiến đời tôi có ánh sáng.”
Ngoài cửa sổ, tuyết ở Chiếu Tuyết lâu lại rơi xuống, phản chiếu khiến trong điện càng thêm dịu dàng.
Lần này tôi cuối cùng đã hiểu — long ỷ có cao đến đâu, cũng không cao bằng ngọn đèn có người để lại cho tôi.
Tôi nguyện dùng tất cả những năm tháng còn lại, đổi lấy một đời bình an của nàng, năm năm vĩnh an.
Posted inTruyện Ngắn